Trang chủ > Tâm khởi qua hình tượng chư Phật, Bồ tát
Bài viết
Bình luận

Tâm khởi qua hình tượng chư Phật, Bồ tát

Chúng sinh trầm luân mãi mãi bởi vô minh che đậy, không trông thấy pháp duyên sinh như huyễn, chấp thật ngã, thật pháp nên cứ lẩn quẩn trong vòng luân hồi. Muốn phá được vô minh phải phát huy trí tuệ. Trí tuệ tăng trưởng thì vô minh sẽ lùi xa.

Tượng Bồ Tát Quán Thế Âm (Bodhisattva Avalokitesvara)

Quán Thế Âm, nghĩa là quán sát tiếng kêu than của chúng sinh trong thế gian để độ cho họ thoát khổ.

Danh hiệu

Quán Thế Âm, nghĩa là quán sát tiếng kêu than của chúng sinh trong thế gian để độ cho họ thoát khổ.

Tiền thân

Thuở đức Phật Bảo Tạng, Ngài là thái tử con vua Vô Tránh Niệm. Ngài theo vua cha đến nghe Phật thuyết pháp và thỉnh Phật cùng Tăng chúng về cung cúng dường. Do công đức ấy, được Phật thọ ký sau này làm Bồ Tát hiệu là Quán Thế Âm, phụ tá đức Phật A Di Đà giáo hóa chúng sinh và sau nữa sẽ thành Phật hiệu là Phổ Quang Công Đức Sơn Vương. (Kinh Bi Hoa quyển ba, phẩm Chư Bồ Tát bổn thọ ký).

Hạnh nguyện

Bồ Tát Quán Thế Âm không có trong lịch sử thế giới này. Ngài là vị Bồ Tát hầu cạnh đức Phật A Di Đà ở thế giới Cực-lạc Phương tây. Có chỗ nói Ngài không cố định ở thế giới nào, tùy chúng sinh ở đâu đau khổ thì Ngài thị hiện đến cứu độ. Quán Thế Âm là xem xét tiếng kêu đau khổ của chúng sinh ở đời. Vì thế, Ngài là hiện thân của từ bi. Chỗ nào có chúng sinh khổ đau là có Ngài hiện thân đến đấy. Ngài hằng tùy loại chúng sinh hóa thân độ họ. Có nhiều lần Ngài hóa thân người nữ độ đời, nên người ta thường gọi Ngài là Phật Bà.

Biểu tướng

Nghiên cứu về hình tượng Ngài, chúng ta thấy có lắm tượng. Những tượng y cứ theo giả sử, như: Quán Âm Hài Nhi (thể theo cốt truyện Quán Âm Thị Kính), Quán Âm Nam Hải, Quán Âm Tử Trúc... Những tượng y cứ theo các Kinh phái Mật tông, như: Quán Âm Mã Đầu, Quán Âm Thiên Thủ Thiên Nhãn, Quán Âm Cữu Diện... Có một pho tượng phổ thông nhất là Quán Âm thanh tịnh bình thùy dương liễu. Tượng này Ngài Trí Khải hằng tán dương, chúng ta cố gắng tìm hiểu.

Tượng Ngài hình người nữ đứng trên hoa sen, tay mặt cầm cành dương, tay trái cầm bình thanh tịnh, trong bình đựng nước cam lồ. Chúng ta hằng lạy mười hai câu nguyện sau khi tụng phẩm Phổ Môn, có câu: “Nam mô thanh tịnh bình thùy dương liễu, Quán Âm Như Lai cam lồ sái tâm nguyện”. Câu nguyện này đã diễn tả đúng hình tượng Ngài. Giờ đây, chúng ta tìm hiểu chi tiết qua hình tượng đó.  Thâm ý

Tại sao Bồ Tát Quán Thế Âm lại là người nữ? Theo Kinh Di Đà nói: “Người sinh về cõi Cực-lạc tuy chưa chứng quả Thánh vẫn không có tướng nam, tướng nữ".

Kinh A-hàm nói: “Người nữ có năm chướng không thể thành Phật... Thế mà, Bồ Tát Quán Thế Âm lại hiện thân người nữ?"

Bồ Tát Quán Thế Âm hiện thân của đức từ bi. Muốn nói lên tình thương chân thành tha thiết nhất trong con người, không tình thương nào qua tình mẹ thương con. Mẹ đối với con là tình thương chân thành thâm thúy bao la, khó lấy cái gì có thể hình dung được. Cho nên, đức Quán Thế Âm hiện thân là một người mẹ hiền của nhân loại, hay của tất cả chúng sinh. Người mẹ dầu bận công ăn việc làm gì, một khi nghe tiếng con kêu khóc, mẹ buông bỏ tất cả vội vàng chạy lại vỗ về con.

Đức Quán Thế Âm cũng thế, dù bận việc giáo hóa ở đâu, một khi nghe tiếng kêu thương của chúng sinh, Ngài liền hiện thân đến an ủi. Vì thế, gọi Ngài là Bồ Tát Quán Thế Âm. Người mẹ hiền của tất cả chúng sinh, người mẹ lúc nào cũng lắng nghe tiếng nấc nở từ cõi lòng của đàn con dại đang đắm chìm trong bể khổ mênh mông, để đến xoa dịu, cứu thoát khiến mọi khổ não đều được tiêu tan.

Tay mặt Ngài cầm cành dương liễu là tượng trưng cho đức nhẫn nhục. Tay trái cầm bình thanh tịnh đựng nước cam lồ là tượng trưng cho tâm từ bi. Chỉ có cành dương liễu mới có khả năng mang nước cam lồ rưới mát chúng sinh.

Dương liễu là loại cây vừa dẻo vừa mềm, gặp gió mạnh thì uốn mình theo chiều gió, gió dừng là trở về vị trí cũ. Nếu cứng như cành cây lim, cây gõ thì gió không thể lay, một khi bị gió lay là phải gãy. Nếu yếu như cành liễu thì chỉ buông rũ theo chiều gió. Cứng quá, mếm quá đều không có sức chịu đựng lâu dài. Cành dương nhờ sức mềm dẻo nên khéo tùy duyên mà không mất vị trí. Tức là tuy chiều theo cảnh mà không bị cảnh chi phối. Vì thế, cành dương được tượng trưng cho đức nhẫn nhục. 

Nhẫn nhục không có nghĩa ai làm sao cũng được, ai bảo gì cũng nghe. Chính bản chất của nó là khéo tùy thuận người, để hướng dẫn họ, theo đường lối hay lập trường của mình. Tùy thuận mà không bị họ chi phối, ngược lại chi phối được họ. Người nhẫn nhục mới trông qua như rất yếu hèn, kỳ thật họ có sức mạnh phi thường, đã tự chiến thắng được tình cảm, được phản ứng của bản năng. Họ đã vượt ra ngoài phạm trù con người phàm tục, nếu lấy con mắt phàm tục nhìn họ thì không thể nào hiểu nổi.

Người chửi ta giận, người đánh ta đỡ, đó là bản năng tự vệ của tất cả mọi người. Bị chửi mà không giận, bị đánh mà không đở, ấy mới là việc khó làm, phi bậc thánh giả khó thể làm được. Hằng ngày chúng ta sống theo tình cảm, theo bản năng, thấy những phản ứng như vậy cho là phải lẽ, hợp lý. Nếu thấy người bị chửi mà không giận..., chúng ta liền đâm ra bực tức, khi dể họ, cho là kẻ hèn yếu nhát nhúa. Đâu ngờ, những kẻ ấy đã đứng trên đỉnh chúng ta, mà ở dưới này chúng ta vẫn tự cao tự đại.

Nước cam lồ là thứ nước rất trong, mát và thơm ngọt, do hứng ngoài sương mà được. Chữ cam là ngọt. Chữ lồ đọc trại chữ lộ, tức là sương hay móc. Khi người ta bị nóng bức khô khan, nếu được một giọt nước cam lồ thấm vào cổ sẽ nghe ngọt ngào mát rượi. Nước cam lồ tượng trưng cho lòng từ bi của Bồ Tát. Khi chúng sinh bị lửa phiền não thiêu đốt, thiết tha cầu cứu nơi Bồ Tát, Ngài sẽ mang nước từ bi đến dập tắt và đem lại cho người sự mát mẻ an lành. Chúng ta đang sống trong nhà lửa tam giới, ngọn lửa phiền não của chúng ta nổi cháy rần rần, nếu không có giọt nước từ bi của Bồ Tát, chắc hẳn tất cả chúng ta đều phải chết thiêu trong lò phiền não.

Từ bi là lòng thương không vụ lợi, không phân biệt thân sơ, không thấy có quý tiện, lòng thương chân thật bình đẳng. Sự quý báu cao cả của nó, chỉ có nước cam lồ mới đủ tính cách tượng trưng. Nước cam lồ chẳng những cứu người qua cơn khát cháy cổ, mà còn đem lại cho người mùi thơm ngon ngọt dịu. Từ bi chẳng những cứu người trong cơn nguy khốn, mà còn đem lại cho người nguồn an lạc vô biên. Bởi tính chất quý báu vô thượng của nước cam lồ như vậy, nên phải đựng nó trong một cái bình thanh tịnh. Vì của quý bao giờ cũng đựng trong món đồ quý.

Bình thanh tịnh là tượng trưng ba nghiệp trong sạch. Chúng ta ôm ấp lòng từ bi muốn ra cứu độ chúng sinh, nếu thân, miệng, ý chưa trong sạch thì khó mong thực hiện lòng từ bi. Nếu cố gắng thực hiện, một thời gian cũng lạc về danh hay vì lợi. Ví như người có khoa y dược, sẵn sàng chữa trị bệnh khổ cho người, khi những con bệnh được lành, đương nhiên phải có sự đền đáp hay khen ngợi trên báo chí, nếu người ấy ý chưa trong sạch dễ nóng lòng danh lợi. Do đó, dần dần làm hoen ố lòng từ bi. Cho nên, muốn thực hiện lòng từ bi, điều kiện tiên quyết là ba nghiệp phải thanh tịnh.

Muốn mang nước cam lồ ra rưới mát chúng sinh, phải dùng cành dương làm phương tiện. Bởi vì chúng sinh trong đời này nghiệp chướng quá sâu dày, ít khi thấy lẽ phải. Họ chỉ sống theo bản ngã, sống vì dục vọng của họ, khó ai làm cho họ hài lòng. Dù người ấy sẵn sàng tiếp giúp họ trong khi khốn đốn, mà họ vẫn không biết ơn, đôi khi còn phản bội. Người sẵn lòng từ bi ra tế độ chúng sinh, nếu thiếu đức tính nhẫn nhục thì sự tế độ khó được viên mãn. Không phải ai ai cũng sẵn sàng đưa tay cho ta dìu ra khỏi con đường nguy hiểm hết đâu, dù họ là những kẻ mù. 

Có kẻ tin đưa tay cho ta dìu đi, song giữa đường vấp phải những hòn đá nhỏ, hay chạm những gốc cây, là họ sừng sộ với ta. Có kẻ dìu đi được một đoạn, họ cho là nhọc nhằn khổ sở, không muốn đi nữa, rồi kiếm chuyện làm khó dễ ta. Có kẻ không ưng đưa tay cho ta dìu, lại còn mắng nhiếc ta thậm tệ. Ở những trường hợp đó, dù ta có thiện chí muốn cứu giúp họ thế mấy, nếu thiếu đức nhẫn nhục, thử hỏi ta có thể làm được việc gì?

Bởi thế, người học đạo từ bi trước phải tập đức nhẫn nhục; khi nhẫn nhục được thuần rồi mới ra thực hiện từ bi. Chưa tập được đức nhẫn nhục đã vội ra thực hành từ bi, chẳng những không làm được hạnh từ bi, mà lại phát sinh sân hận là khác. Cho nên, phải có cành dương rồi, sau mới nhúng nước cam lồ rưới mát chúng sinh.

Chúng ta lễ tượng đức Quán Thế Âm luôn luôn phải ghi nhớ hai đức tính căn bản của Ngài: nhẫn nhục và từ bi, để đem áp dụng vào bản thân chúng ta. Có thế, sự lễ bái mới thật là hữu ích và cần thiết vô cùng.

Chúng ta lễ tượng đức Quán Thế Âm luôn luôn phải ghi nhớ hai đức tính căn bản của Ngài: nhẫn nhục và từ bi, để đem áp dụng vào bản thân chúng ta. Có thế, sự lễ bái mới thật là hữu ích và cần thiết vô cùng.

Để thấy rõ công hạnh từ bi, chúng ta hãy nghe đoạn văn tán dương năng lực nhành dương của Ngài Thiên Thai:

“Thùy dương liễu biến sái cam lồ, trừ nhiệt não dĩ giai đắc thanh lương, tầm thinh cứu khổ ư tứ sinh, thuyết pháp độ thoát ư lục đạo, bẩm từ bi kiên cố chi tâm, cụ tự tại đoan nghiêm chi tướng, hữu cầu giai ứng, vô nguyện bất tùng, cố ngã tri lưu, đoan thừa tịnh quán, thành tụng mật ngôn, gia trì pháp thủy. Thị thủy giả, phương viên tùy khí, dinh hư nhậm thời, xuân dương đông ngưng, khẩm lưu lương chỉ, hạo hạo hồ, diệu nguyên mạc trắc, thao thao hồ, linh phái nan cùng, bích giáng tàng long, hàn đàm tẩm nguyệt, hoặc tại quân vương long bút hạ, tán tác ân ba, hoặc cư Bồ Tát liễu chi đầu sái vi cam lồ, nhất đích tài triêm, thập phương câu tịnh”.

Dịch:

“Cầm nhành dương (Ngài) rưới nước cam lồ lên khắp cả, trừ nhiệt não (Ngài) làm cho mọi người đều được tắm trong dòng suối thanh lương. Nghe tiếng kêu mà cứu khổ cho tứ sinh, Ngài thuyết pháp để độ thoát cho lục đạo. Sẵn tâm niệm từ bi kiên cố, đủ dáng vẻ tự tại trang nghiêm, không ai cầu mà chẳng ứng, không nguyện nào mà chẳng thành. Cho nên, chúng con là kẻ xuất gia, an trụ trong tịnh quán, chí thành đọc lại mật ngôn và gia trì pháp thủy. Tịnh thủy này vuông tròn tùy theo bình chứa đựng, có hay không cũng tùy tiết tùy thời. Mùa xuân là loãng, mùa đông thì đặc, khi chảy khi đọng thật là mênh mông; nguồn sâu khó lường, chảy mãi thao thao, thật là dòng linh khôn tuyệt. Ở trong khe đá, nước ngâm bóng loài rồng, ở dưới ao thu, nước tẩm lấy bóng nguyệt. Tịnh thủy này hoặc đọng dưới ngòi bút của đấng quân vương để rồi làm tràn ngập sóng ân, hoặc nằm trên đầu nhành dương liễu của vị giác hữu tình để rưới thành cam lồ linh diệu. Chỉ cần một giọt nước rưới lên là mười phương đều được sạch trong”. N. H.

Muốn diễn tả lòng từ bi cao cả của Bồ Tát Quán Thế Âm, tác giả dùng giọt nước nhành dương, thật là linh động biến ảo. Nước không cố định ở một hình thức nào, tùy duyên biến chuyển, có khi là thể lỏng, có khi là thể cứng, có lúc lại biến thành hơi. Nếu chúng ta chấp nước chỉ có ở thể lỏng, tức không hiểu được nước. Không phải chỉ ở một hình thức cố định, mà linh động tùy duyên. Đủ duyên cơ cảm thì Bồ Tát ứng hiện.

Nước khi đọng dưới hồ thu trong xanh in hiện bóng trăng, khi lóng trong khe đá làm nhà của loài rồng, lúc chảy ầm ầm thành suối gào thác đổ, thật không thể lường được diệu dụng của nước. Lòng từ bi của Bồ Tát cũng thế, mênh mông như bể cả bao hàm tất cả chúng sinh, tràn trề như ngọn triều lên mang hạnh phúc cho mọi loài thọ hưởng. Bất cứ nơi nào, chốn nào có cảm thì Bồ Tát đều ứng hiện. Sự ứng hiện tùy theo căn tính chúng sinh, kẻ thấy Bồ Tát ở hình thức này, người cảm Bồ Tát nơi tướng trạng khác. Tựu trong có cảm thông nhất định có linh ứng.

Chỉ một giọt nước (nhỏ mực) đọng dưới ngòi bút của hàng vua chúa cũng đủ làm cho muôn dân thấm nhuần ơn vũ lộ. Hoặc một giọt nước (giọt cam lồ) nằm trên đầu nhành dương liễu của bậc Bồ Tát cũng đủ giải thoát mọi loài chúng sinh. Lòng từ bi không phải chỉ có ở trong tâm Bồ Tát, trong tâm những kẻ tu hành, mà còn có ở trong lòng bậc đế vương, trong lòng kẻ có quyền thế. Cho nên, ai cũng có thể là bậc cứu khổ chúng sinh, miễn họ phát tâm từ bi. Từ bi không phải là gia bảo dành riêng cho các bậc tu hành, mà nó là của chung tất cả nhân loại. Dù ở hoàn cảnh nào, trường hợp nào, cũng có thể thực hiện từ bi được, nếu trong lòng chứa sẵn từ bi.

Qua những lời tán dương trên, chúng ta thấy lòng từ bi cao cả khôn lường. Chúng ta lễ tượng đức Quán Thế Âm luôn luôn phải ghi nhớ hai đức tính căn bản của Ngài: nhẫn nhục và từ bi, để đem áp dụng vào bản thân chúng ta. Có thế, sự lễ bái mới thật là hữu ích và cần thiết vô cùng.

Tượng Bồ Tát Đại Thế Chí (Bodhisattva Mo hasthanapràta)

Danh hiệu

Theo Kinh Quán Vô Lượng Thọ, Đại Thế Chí có nghĩa là dùng ánh sáng trí tuệ soi khắp hết thảy, khiến chúng sinh trong ba đường ác được giải thoát và được năng lực vô thượng.

Tiền thân

Thuở xa xưa ở thế giới Vô Lượng Đức Tựu An Lạc thị hiện có đức Phật hiệu Kim Quang Sư Tử Du Hý ra đời hóa độ chúng sinh.

Trong nước có ông vua hiệu Oai Đức, lấy Chánh pháp trị dân nên cũng gọi là Pháp vương. Trong nước ấy không có người nữ, toàn là do hóa sinh. Vua kính thờ đức Phật Kim Quang Sư Tử Du Hý không biết mỏi nhàm. Một hôm, vua tọa thiền Tam muội, khi xuất định thấy hai hoa sen mọc bên tả hữu, trong mỗi hoa sen có mỗi đồng tử, rồi cùng nhà vua đến Phật nghe pháp. Vua Oai Đức đó là tiền thân Phật Thích Ca, hai vị đồng tử là Bồ Tát Quán Thế Âm và Đại Thế Chí. (Quán Thế Âm Bồ Tát Thọ Ký Kinh)

Lại một thuở khác, Ngài là con trai thứ của vua Vô Tránh Niệm tên Ni-ma. Ngài được thân thừa cúng dường đức Phật Bảo Tạng và phát nguyện độ sinh, được Phật thọ ký: “Sau này làm Bồ Tát hiệu là Đắc Đại Thế (Đại Thế Chí), phụ tá bên cạnh đức Phật A Di Đà ở cõi Cực-lạc. Và, sau nữa Ngài sẽ thành Phật hiệu là “Thiện Trụ Công Đức Bảo Vương”, ở thế giới Đại Thế". (Kinh Bi Hoa, quyển ba, phẩm Chư Bồ Tát Bổn Thọ Ký).

Theo Kinh Quán Vô Lượng Thọ, Đại Thế Chí có nghĩa là dùng ánh sáng trí tuệ soi khắp hết thảy, khiến chúng sinh trong ba đường ác được giải thoát và được năng lực vô thượng.

Theo Kinh Quán Vô Lượng Thọ, Đại Thế Chí có nghĩa là dùng ánh sáng trí tuệ soi khắp hết thảy, khiến chúng sinh trong ba đường ác được giải thoát và được năng lực vô thượng.

Hạnh nguyện

Ngài dùng pháp môn Niệm Phật Tam muội để tự tu và hóa độ chúng sinh. Trong hội Lăng Nghiêm, đức Phật Thích Ca hỏi chỗ sở tu sở đắc của các vị La-hán và Bồ Tát, Ngài tự thuật: “Thời đức Phật Siêu Nhật Nguyệt Quang dạy con niệm Phật Tam muội... Nhơn địa xưa của con dùng tâm niệm Phật nhập vô sinh nhẫn. Nay ở thế giới này, con tiếp độ người niệm Phật về Tịnh độ...”. Đức Quan Thế Âm dùng lòng từ bi lắng nghe tiếng đau khổ đến cứu độ chúng sinh, đức Đại Thế Chí dùng ánh sáng trí tuệ soi đường cho chúng sinh được giải thoát.

Biểu tướng

Ngài đứng bên hữu đức Phật A Di Đà, tướng người cư sĩ cổ đeo chuỗi anh lạc, tay cầm hoa sen xanh. Đây là lối thờ Di Đà tam tông: Đức Phật Di Đà ở giữa, bên tả Bồ Tát Quán Thế Âm, bên hữu Bồ Tát Đại Thế Chí.  Mật ý

Bồ Tát hình người cư sĩ để nói lên hạnh nguyện độ sinh của Ngài luôn luôn gần gũi quần chúng. Bởi vì muốn cảm thông nhau thì trước phải cùng hình thức như nhau. Bồ Tát là bạn lành của chúng sinh, cho nên mang hình thức người cư sĩ để dễ lăn lộn trong nhân gian, mà hóa độ họ.

Hoa sen xanh tượng trưng thanh tịnh, tức là đoạn đức. Dùng trí tuệ dứt sạch tất cả phiền não nhiễm ô, cứu vớt chúng sinh lên khỏi vũng bùn ác trược.

Muốn cứu vớt chúng sinh về Tịnh độ, trước phải dạy họ dứt sạch phiền não uế ô. Vì thế, danh hiệu Ngài đã nói lên ý nghĩa vận dụng ánh sáng trí tuệ chiếu soi cho chúng sinh thấy rõ những uế trược nơi mình, đồng thời giúp cho họ có sức mạnh đoạn trừ những uế trược ấy, nhiên hậu đưa họ về Tịnh độ.

Mỗi đức Phật đều đầy đủ hai đức tính quan trọng là từ bi và trí tuệ. Thiếu một trong hai đức tính này, không bao giờ thành Phật. Cho nên, thờ tượng tam tông để biểu thị ý nghĩa này. Đức Phật Thích Ca có hai vị Bồ Tát phụ tá là Văn Thù và Phổ Hiền. Ngài Văn Thù tượng trưng trí tuệ. Ngài Phổ Hiền là đại hạnh từ bi. Đức Phật Di Đà cũng thế, có hai Bồ Tát phụ tá là Quán Âm và Thế Chí. Đức Quán Âm tượng trưng từ bi, Bồ Tát Thế Chí tượng trưng trí tuệ. Từ bi ở bên tả, trí tuệ ở bên hữu, để biểu thị trí tuệ lúc nào cũng dẫn đầu thì từ bi mới thành tựu.

Chúng ta thờ Phật, lễ Phật luôn luôn phải học tập và thực hành hai hạnh này. Có thế, sự thờ Phật, lễ Phật mới đầy đủ ý nghĩa.

Tượng Bồ Tát Đại Trí Văn Thù Sư Lợi (Bodhisattva Manjusri)

Danh hiệu

Văn Thù Sư Lợi cũng gọi là Mạn Thù Thất Lỵ, dịch nghĩa là “Diệu Đức, Diệu Cát Tường”. Vì thấy rõ Phật tính, mọi đức đều tròn đầy, không sự ràng buộc nào chẳng dứt, nên gọi Diệu Đức.

Tiền thân

Thuở xưa, Ngài là con thứ ba vua Vô Tránh Niệm tên là Thái tử Vương Chúng. Do cúng dường đức Phật Bảo Tạng và phát nguyện độ sinh nên được hiệu là Văn Thù Sư Lợi và được thọ ký sau này sẽ thành Phật ở thế giới thanh tịnh Vô Cấu Bảo Chỉ, hiệu là Phật Văn Thù (Kinh Bi Hoa).

Lại, trong Kinh Pháp Hoa chép: "Thời đức Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh, Ngài là Bồ Tát Diệu Quang thọ trì Kinh Pháp Hoa. Tám người con của Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh đều theo học với Ngài, sau này các vị ấy đều thành Phật, trong số đó có Phật Nhiên Đăng và Di Lặc". (Kinh Pháp Hoa)

Hạnh nguyện

Ngài là vị Bồ Tát hiểu thấu Phật tính, đầy đủ ba đức: Pháp thân, Bát-nhã, Giải thoát; hằng đem ba đức ấy giác ngộ chúng sinh. Ngài là hiện thân của căn bản trí, cho nên trong hàng Bồ Tát Ngài là Thượng thủ. Trong các hội thuyết pháp của đức Phật Thích Ca, Ngài luôn hiện thân trợ hóa.

Văn Thù Sư Lợi cũng gọi là Mạn Thù Thất Lỵ, dịch nghĩa là “Diệu Đức, Diệu Cát Tường”. Vì thấy rõ Phật tính, mọi đức đều tròn đầy, không sự ràng buộc nào chẳng dứt, nên gọi Diệu Đức.

Văn Thù Sư Lợi cũng gọi là Mạn Thù Thất Lỵ, dịch nghĩa là “Diệu Đức, Diệu Cát Tường”. Vì thấy rõ Phật tính, mọi đức đều tròn đầy, không sự ràng buộc nào chẳng dứt, nên gọi Diệu Đức.

Biểu tướng

Tay mặt Ngài cầm kiếm sắc bén. Tay trái cầm hoa sen xanh. Mình ngồi trên lưng sư tử xanh. Có nơi Ngài hiện tướng người xuất gia, vì với tư cách trợ hoá cùng đức Phật Thích Ca nên phải hiện thân người xuất gia như các vị Tỳ-kheo. Có chỗ thờ Ngài với hình thức người cư sĩ đội mũ, mặc giáp, cầm kiếm. Như Thiện Tài Đồng Tử tán thán:

“Thân mặc giáp nhẫn nhục,

Tay cầm gươm trí tuệ,

Tự tại hàng quân ma,X

in thương xót cứu vớt tôi.

(Kinh Hoa Nghiêm tập ba, phẩm pháp giới, Hòa Thượng Trí Tịnh dịch)

Thâm ý

Ngài Văn Thù tượng trưng căn bản trí. Tay mặt Ngài cầm kiếm là biểu thị trí đức. Dùng trí tuệ sáng suốt phá tan tất cả vô minh hắc ám. Ánh sáng trí tuệ soi đến đâu, hắc ám tan đến đấy. Như dũng sĩ cầm kiếm bén xông pha trong trận mạc, chiếc liếm lia đến đâu thì đầu giặc rơi đến đấy. Sức trí tuệ vô cùng mãnh liệt, như thanh kiếm báu cứng chắc san sảng, dù chạm phải cùng loại kim khí vẫn không bị khờn mẻ, mà có thể chặt đứt tất cả.

Tay trái Ngài cầm hoa sen xanh, biểu thị đoạn đức. Đối với tự thân cũng do sức trí tuệ dứt sạch mọi nhiễm ô tham ái, như hoa sen ở trong bùn mà không nhiễm bùn. Bồ Tát không phải người ẩn nơi non cao rừng thẩm, sống trong cảnh thanh tịnh u nhàn, mà là người sống chung với quần chúng, lăn lộn trong đám bụi trần để cứu độ chúng sinh, nên có lúc ra làm vua, có lúc làm quan, cũng có khi làm kẻ tật nguyền cùng khổ... Tuy sống trong dục lạc dẫy đầy, mà Bồ Tát vẫn giữ tâm thanh tịnh không bị ô nhiễm như người đời. Đó là nhờ trí tuệ dứt sạch tham ái, viên thành đoạn đức.

Chiếc giáp Ngài mang trên người gọi là giáp nhẫn nhục. Nhờ nó nên các mũi tên thị phi không xâm phạm vào thân. Nó che chở cho Bồ Tát vẹn toàn tâm từ bi; bọn giặc sân hận oán thù không thể nào xúc não được hạnh nguyện của Bồ Tát. Bồ Tát không bao giờ rời chiếc giáp nhẫn nhục. Thiếu nó Bồ Tát không thể nào thực hiện được tâm Bồ-đề.

Con sư tử là biểu thị công năng của trí tuệ. Bởi vì sư tử là chúa sơn lâm, một tiếng rống của nó muôn thú đều nép phục. Bồ Tát do trí tuệ viên mãn hay thuyết pháp phá dẹp tất cả tà tuyết. Một phen Chánh pháp vang lên, mọi tà thuyết đều ẩn náu. Như một phen sư tử rống lên thì muôn thú đều Kinh tâm tán đởm.

Chúng ta thờ phụng, đảnh lễ Bồ Tát Văn Thù là để hướng về trí tuệ sẵn có của chúng ta. Lâu rồi, chúng ta mãi sống quay cuồng theo vô minh tham ái, trôi lăn trong biển sinh tử luân hồi, chịu chập chồng muôn nỗi khổ đau. Giờ đây, chúng ta hãy tỉnh dậy, quay về với trí tuệ sẵn có của mình, dùng thanh gươm trí tuệ chặt đứt lưới tham ái để vượt ra khỏi bể khổ thâm sâu. Chỉ có trí tuệ mới đủ công năng cứu ta ra khỏi vòng luân hồi nghiệp báo. Sau khi tự cứu được mình bằng khả năng trí tuệ, chúng ta lại dùng nó tuyên dương Chánh pháp hóa độ quần mê.

Được vậy, phần tự lợi và lợi tha mới được đầy đủ. Tuy nhiên, người chiến sĩ muốn chiến thắng kẻ thù phiền não, muốn cứu thoát mọi người ra khỏi vòng kiềm hãm của chúng thì lúc nào trong người cũng không rời chiếc giáp nhẫn nhục. Được thế, mới chắc chắn thành công. Cũng vậy, chúng ta muốn tự giác giác tha thì hạnh nhẫn nhục không lúc nào dám xao lãng. Có thực hành được như vậy, mới xứng đáng đảnh lễ đức Văn Thù tay cầm kiếm, mình mặc giáp, ngồi trên lưng sư tử.

Tượng Bồ Tát Đại Hạnh Phổ Hiền (Bodhisattva Vi’ svabhadhra hoặc Samantabhadra)

Danh hiệu

Phổ Hiền là vị hiền rất gần bậc thánh hay giáo hóa khắp tất cả chỗ. Đức độ khắp tất cả pháp giới, khéo hay điều phục thuận thảo gọi là Hiền. Điều thiện vi diệu khắp tất cả chỗ gọi là Phổ.

Tiền thân

Thuở xưa, Ngài là con thứ tư của vua Vô Tránh Niệm tên là Năng Độ. Do cúng dường đức Phật Bảo Tạng và phát nguyện độ sinh, Ngài được Phật thọ ký sau này tu hạnh Bồ Tát sẽ được tên là Kim Cương Trí Huệ Quang Minh Công Đức và sẽ thành Phật ở thế giới Bất Huyền phương Đông hiệu là Phổ Hiền Như Lai (Kinh Bi Hoa).

Hạnh nguyện

Bồ Tát Phổ Hiền có mười hạnh nguyện lớn:

1. Lễ kính chư Phật

2. Khen ngợi Như Lai

3. Cúng dường khắp cả

4. Sám hối nghiệp chướng

5. Tùy hỉ công đức

6. Thỉnh Phật chuyển pháp luân

7. Thỉnh Phật thường ở đời

8. Thường theo học Phật

9. Hằng tùy thuận chúng sinh

10. Hồi hướng khắp hết.

(Kinh Hoa Nghiêm, phẩm Phổ Hiền hạnh nguyện)

Lại, trong hội Lăng Nghiêm, Phật hỏi về căn viên thông, Ngài thuật:

“Con đã từng làm con các vị Pháp Vương nhiều như số cát sông Hằng, chư Phật mười phương dạy đệ tử có căn Bồ Tát đều tu hạnh Phổ Hiền, là do con mà đặt tên. Bạch Thế Tôn! Con dùng tâm nghe và phân biệt những hiểu biết của chúng sinh, nếu ở phương khác ngoài số thế giới như cát sông Hằng, có một chúng sinh trong tâm phát minh hạnh Phổ Hiền, khi ấy con cưỡi voi trắng sáu ngà phân thân trăm ngàn đến khắp các chỗ kia. Dù người kia bị nghiệp chướng sâu nặng chưa thấy được con, con ở trong tối xoa đầu, an ủi ủng hộ, khiến người kia được thành tựu...” (Kinh Lăng Nghiêm, chương Phổ Hiền).

Tượng Bồ Tát Đại Hạnh Phổ Hiền

Biểu tướng

Căn cứ vào tượng Thích Ca tam tông, Bồ Tát Phổ Hiền hầu bên tả đức Phật Thích Ca, Bồ Tát Văn Thù hầu bên hữu. Bồ Tát Phổ Hiền thờ riêng với hình thức ngư cư sĩ, cưỡi voi trắng sáu ngà, hai tay chắp lại. Thâm ý

Ngài tượng trưng cho chân lý, Văn Thù tượng trưng chân trí, lý trí dung thông. Hoặc Ngài tượng trưng cho tam muội, Văn Thù tượng trưng cho Bát-nhã. Hoặc Ngài tượng trưng cho hạnh, Văn Thù tượng trưng cho giải, hạnh giải viên dung. Hoặc Ngài tượng trưng cho từ bi, Văn Thù tượng trưng cho trí tuệ. Đức Phật dùng chân trí thâm đạt chân lý, vì thế biểu thị hai vị Bồ Tát phụ tá hai bên. Hoặc đức Phật Bi, Trí viên mãn, nên hai Ngài thường có mặt bên trái, bên phải đức Phật.

Riêng tượng Bồ Tát Phổ Hiền ngồi trên lưng voi trắng sáu ngà để biểu thị hạnh nguyện rộng lớn. Trong các loài thú, về sức mạnh chuyên chở, con voi là mạnh hơn cả. Nó hay chuyên chở người và vật từ chỗ này đến chỗ khác. Bồ Tát Phổ Hiền cũng thế, dùng đại hạnh hóa độ chúng sinh, đưa họ từ bờ mê đến bến giác. Lại, con voi ấy trắng có sáu ngà, biểu thị Bồ Tát tuy còn lăn lộn trong trần để hóa độ chúng sinh, mà nghiệp chướng đã trong sạch.

Sáu ngà là tượng trưng cho lục độ, chèo thuyền lục độ, Bồ Tát cứu vớt chúng sinh đang chìm đắm trong bể khổ. Mặc dù bể khổ mênh mông, chúng sinh vô lượng, Bồ Tát không nại hà mệt nhọc vẫn say sưa cứu vớt không ngừng. Những chiếc chèo bố thí, cánh buồm tinh tấn, mục tiêu thiền định, tay lái trí tuệ mãi hoạt động luôn luôn tiến tới không bao giờ bị sóng gió khiến phải lui sụt.

Chúng ta thờ Bồ Tát Phổ Hiền là thờ chân lý, hằng ngày kính lễ Ngài, chúng ta phải tự tỉnh ăn năn tránh xa mọi ảo vọng, trở về phối hợp với chân lý. Còn gì đau buồn bằng, hằng ngày sống trong chân lý mà chúng ta bị mờ mịt bởi vô minh, rồi lấy vọng làm chân, lấy giả làm thực, càng ngày càng cách xa chân lý. Chúng ta hãy mở mang trí tuệ, nhìn thẳng vào mặt chân lý để được giác ngộ như chư Phật. Có vậy mới xứng đáng là Điều Ngự Tử.

Lại, thờ Bồ Tát Phổ Hiền cũng là thờ Đại hạnh vô biên của chư Bồ Tát. Kính lễ Ngài có nghĩa là chúng ta tôn trọng học đòi theo hạnh nguyện rộng lớn của Ngài. Hãy đập tan đi cái vỏ ích kỷ hẹp hòi của chúng ta để hòa mình trong hạnh nguyện mênh mông của Bồ Tát. Còn đeo đẳng cái vỏ ích kỷ này là còn khổ đau, còn chìm đắm, phải gỡ nó bỏ đi, chúng ta sẽ nhẹ nhàng vượt khỏi muôn lớp trùng dương đến nơi bờ giác an vui. Lòng từ vô hạn, hạnh nguyện vô biên của Bồ Tát là những tiếng còi cảnh tỉnh, kêu gọi chúng ta hãy sống dậy trong đồng thể đại bi, trong chân như vĩnh cửu. Bỏ đi cái vỏ nhỏ nhen, tạm bợ, mà con người đang vì nó tạo nghiệp khổ ngập trời.

Tượng Bồ Tát Đại Nguyện Địa Tạng (Bodhisattva Ksitigarbha)

Danh hiệu

Địa Tạng có nghĩa an nhẫn, bất động như đại địa; tư duy sâu xa kín đáo như kho tàng bí mật.

Tiền thân

Thời tượng pháp của đức Phật Giác Hoa Định Tự Tại Vương, có người con gái dòng Bà-la-môn đầy đủ phước đức, mọi người đều cung kính. Mẹ cô không tin Tam bảo lại khi dể, tuy cô cố gắng giáo hóa mà không thể được. Sau khi mẹ chết, vì lòng hiếu thảo cô cúng dường tượng đức Phật Giác Hoa Định Tự Tại Vương cầu xin biết được mẹ đang sinh về đâu. Vì lòng chí hiếu cảm thông đến Phật, đức Phật dạy cô về nhà đêm đến ngồi nhớ danh hiệu Ngài sẽ biết chỗ mẹ sinh. Làm đúng như lời Phật dạy, cô được thấy cảnh địa ngục và sau rốt biết mẹ cô nhờ phước đức của cô đã được sinh về cõi trời.

Sau khi thấy cảnh khổ đau ở địa ngục, cô phát nguyện: “Bao giờ địa ngục trống không, chúng sinh độ hết, tôi mới thành Phật quả”. Cô gái ấy là tiền thân Bồ Tát Địa Tạng. (Kinh Địa Tạng Bổn Nguyện Công Đức)

Hạnh nguyện

Đức Phật ở trên cung trời Đao Lợi thọ ký Ngài rằng: “Địa Tạng ghi nhớ: Ngày nay tôi ở cõi trời Đao Lợi trong đại hội có tất cả chư Phật, trời, rồng, bát bộ nhiều đến trăm ngàn muôn ức không thể nói, đem người, trời, các chúng sinh... chưa ra khỏi tam giới, còn ở trong nhà lửa giao phó cho ông. Ông chớ để các chúng sinh ấy rơi vào đường ác trong một ngày một đêm...” (Kinh Địa Tạng Bổn Nguyện công đức, phẩm Chúc Lụy nhơn thiên).

Lại, Kinh Địa Tạng Thập Luận có đoạn:

“Người thiện nam này Bồ Tát Địa Tạng, mỗi ngày vào buổi sáng, vì muốn làm thành thục các hữu tình, nhập các thiền định nhiều như số cát sông Hằng, từ định xuất rồi, đi khắp mười phương các cõi Phật làm thành thục tất cả hữu tình đã được giáo hóa, tùy cơ cảm của hữu tình khiến được lợi ích an lạc”. (Địa Tạng Thập Luận Kinh)

Theo Kinh Địa Tạng Bổn Nguyện, đức Phật Thích Ca phó chúc cho Ngài cứu độ chúng sinh sau khi Phật nhập Niết-bàn cho đến lúc đức Di Lặc ra đời. Căn cứ các tiền thân của Ngài, Ngài thường nguyện làm cho địa ngục trống không và độ hết chúng sinh.

Nói về hạnh nguyện của Ngài, chúng ta có thể thấy rõ trong bài tán sau đây:

Khể thủ từ bi đại Giáo chủ:

Địa ngôn: kiên, hậu, quảng hàm tàng.

Nam phương thế giới võng hương vân,

Hương võ, hoa vân, cập hoa võ

Bảo võ, bao vân, vô số chủng

Vi tường, vi thụy, biến trang nghiêm.

Thiên, nhơn vấn Phật thì hà nhân?

Phật ngôn: Địa Tạng Bồ Tát chí!

Tam Thế Như Lai đồng tán ngưỡng,

Thập phương Bồ Tát cộng quy y,

Ngã kim túc thực thiện nhơn duyên,

Tán dương Địa Tạng chân công đức:

Từ nhân, tích thiện,

Thệ cứu chúng sinh.

Thủ trung kim tích, chấn khai địa ngục chi môn,

Chưởng thượng minh châu, quang nhiếp đại thiên thế giới.

Diêm Vương điện thượng,

Nghiệp kính đài tiền,

Vị Nam Diêm Phù Đề chúng sinh

Tác đại chứng minh công đức chủ

Đại bi, đại nguyện,

Đại thánh, đại từ,

Các bài viết liên quan
Xem
Những con số bảy trong kinh tạng Pali
Xem
Nghiệp và số mệnh đồng hay khác?
Xem
Thưởng lãm các bức thư pháp "thiền định" của Thiền sư Thích Nhất Hạnh
Xem
Con đường và hương vị giải thoát
Xem
Pháp tu niệm Phật trong thời Thế Tôn tại thế
Xem
Tổ đình Từ Hiếu: Miền an lạc chốn thiền môn xứ Huế
Xem
Rừng hay ngôn ngữ của sự sống
Xem
Bệnh nhân 91 xuất viện, trở về Anh
Xem
Thấp thoáng lời kinh Quán Thế Âm
Xem
Căn tu là gì?
Xem
Phát tâm tu, khi nghiệp quả đến có thay đổi từ nặng sang nhẹ không?
Xem
Một quyết định nhân văn của Siem Reap - Campuchia
Xem
Ni giới và những lời Phật dạy
Xem
Những lời dạy cuối cùng của Đức Phật
Xem
Giới luật – tìm lại niềm tin nơi Phật tử
Xem
Nguồn gốc và ý nghĩa của Chuông, Mõ, Khánh trong Phật giáo
Xem
Theo Phật xuất gia truyền thừa Phật pháp
Xem
Chính ngữ: Giải pháp phòng, chống bạo hành bằng lời nói
Xem
Món quà cuộc sống
Xem
Thông điệp của Đức Dalai Lama nhân khánh tuế thứ 85
Xem
Xuất gia để làm gì?
Xem
Vì sao ta phải sống trong đau khổ lầm mê?
Xem
Danh xưng Chư tôn đức Tăng trong Tòng lâm Phật giáo Bắc truyền
Xem
Phật dạy về nghiệp báo sai biệt của mỗi người
Xem
Phật tử vì sao mà phải tín ngưỡng Tam Bảo?
Xem
Thiền sư Thích Nhất Hạnh: Ăn trong chánh niệm, Sống trong tỉnh thức
Xem
Stephen Cameron trở về từ cận tử nghiệp
Xem
Tin Phật là con người đã giác ngộ hoàn toàn
Xem
Hễ xem kinh sách thì buồn ngủ phải làm sao?
Xem
Ý nghĩa thâm sâu từ tư thế ngủ của Đức Phật
Xem
Bệnh dưới lăng kính Phật giáo
Xem
Địa ngục trần gian và nỗi khổ con người
Xem
Bức thông điệp từ con người của Đức Phật
Xem
Ý nghĩa và lợi ích khi trì chú Văn Thù Sư Lợi Bồ tát
Xem
Tu như cứu lửa cháy dầu
Xem
Phật dạy tham ăn uống làm con người khổ
Xem
Cái chết có trong sự sống
Xem
Ý nghĩa của câu "Ta bà ha" ở cuối các các câu thần chú
Xem
Nghi thức lạy sám hối 35 vị Phật
Xem
Nhân quả và con đường chuyển hóa
Xem
Đức Phật dạy thế nào là người đàn ông lý tưởng?
Xem
Quán Thế Âm Bồ Tát là huynh đệ của chúng ta
Xem
Yên lặng ở nội tâm
Xem
Nghiệp dẫn chúng sinh đi trong luân hồi sống chết
Xem
Những câu danh ngôn của Thiền sư Thích Nhất Hạnh
Xem
Liên Hợp Quốc tổ chức kỷ niệm Ngày Quốc tế Phật đản
Xem
An cư kiết hạ là gì? Ý nghĩa của An cư kiết hạ
Xem
Sống an lạc qua giáo lý “tứ đại giai không”
Xem
Cách cúng thí thực để có được nhiều lợi ích và phước báu
Xem
Hành xứ của người xuất gia
Xem
Về thăm chùa Bộc, nơi thờ "Hoàng đế" Quang Trung
Xem
Nhất niên Phật hiện tiền, nhị niên Phật thăng thiên, tam niên bất kiến Phật
Xem
Đức Phật cảm hóa Angulimāla: Nhiều bài học quý
Xem
Nghĩ về hai chữ “công” và “đức” của hòm “công đức”
Xem
Hình thức và ý nghĩa lễ bái trong đạo Phật
Xem
5 phận sự của Đức Phật
Xem
Muốn học Phật trước tiên phải biết hiếu dưỡng cha mẹ
Xem
Sự khác nhau trong các danh xưng và thờ tự ở Chùa, Tịnh xá, Tu viện, Thiền viện
Xem
Có nên nguyện trả hết nghiệp trước khi vãng sinh?
Xem
Đức Phật là bậc Vô thượng Y vương
Xem
Chuyến du Nam vãn cảnh bái Phật
Xem
Ý niệm tấn phong giáo phẩm trong Phật giáo
Xem
Người thân vừa qua đời, nên làm gì với quần áo, vật dụng ?
Xem
Bí ẩn tài sản thiêng liêng của người tu hành
Xem
Tại sao gọi là xuất gia?
Xem
An cư trong đại dịch
Xem
Xuất gia là con đường con đã chọn
Xem
Lời khai thị về ăn chay của Hòa thượng Thích Trí Tịnh
Xem
Phật dạy: Tu tập bảy pháp này khiến ma không phá hoại
Xem
Học hạnh không tranh chấp, tranh giành, tranh đấu, tranh cãi
Xem
Cầu nguyện hay Cầu xin?
Xem
Đạo Phật với con người trẻ
Xem
Cho con nhỏ quy gieo duyên trước chư Phật
Xem
Các cảnh giới tái sinh giúp người trợ niệm vãng sinh tìm hiểu
Xem
Nàng Ma Đăng Già trong nhạc, vũ, kịch
Xem
Những nguyên nhân giàu và nghèo trong cuộc sống
Xem
Hội nghị sinh hoạt Giáo hội 5 tháng đầu năm khu vực phía Nam
Xem
Hành trì và chánh nghiệp
Xem
Đối tượng lễ bái qua kinh Thiện Sanh
Xem
Sự giác ngộ và giải thoát của Người Phật tử
Xem
Hai nhà sư trẻ tam bộ nhất bái tới non thiêng Yên Tử giữa đại dịch
Xem
Cố gắng tìm về sự tĩnh lặng trong mâu thuẫn của cuộc đời
Xem
Cuộc đời này hạnh phúc hay ý nghĩa?
Xem
Những câu chuyện ám hại Đức Phật trong lịch sử
Xem
Có duyên với Phật pháp là một phước duyên của đời người
Xem
Số phận đã an bài, có hay không sự may - rủi của số phận?
Xem
Diệt trừ các nghiệp ác do lời nói gây ra
Xem
Lời Phật dạy luôn luôn còn mãi
Xem
Tâm hoan hỷ trong kinh Pháp cú
Xem
Giải thoát là cốt lõi của Đạo Phật
Xem
Người tu thiền chết về đâu?
Xem
Trời kêu ai nấy dạ
Xem
Sự bất an và trầm tĩnh cùng Virus Corona
Xem
Tăng cường hệ miễn dịch nhờ năng lượng nuôi dưỡng từ Thiền định
Xem
Từ bỏ sự sát sanh
Xem
Hoa sen, biểu tượng của đạo Phật
Xem
Thiền đối với trẻ em
Xem
Bồ tát cũng là chúng sinh
Xem
Chàng trai Việt nặng tình trên đất Phật
Xem
Ý nghĩa của kinh hành niệm Phật
Xem
Thiên tai dịch họa trước quan niệm của tiền nhân
Xem
Ứng dụng NCOVI hỗ trợ phòng chống dịch bệnh do nCoV
Xem
Người muốn nhận lấy các nghiệp tội của chúng sinh
Xem
Chết không có nghĩa là chấm dứt
Xem
Cơ bản về điều kiện của hạnh phúc là tự do
Xem
Những điều cần biết để chủ động phòng chống dịch Corona
Xem
Quả báo từ việc phá thai của cô gái trẻ
Xem
Sự giống nhau giữa đạo Phật và môi trường
Xem
Lời dạy cuối cùng của Đức Phật trước khi Ngài nhập niết bàn
Xem
Trách mình trước khi trách người
Xem
Diêm Vương trong đạo Phật ?
Xem
Thần lực và Thần chú
Xem
Sau khi chết, Thần thức sẽ an trụ nơi nào?
Xem
99% trường hợp nghi nhiễm dịch COVID-19 ở Hà Nội đều âm tính
Xem
Ăn trong thiền
Xem
Kinh A Di Đà Việt nghĩa chuẩn nhất và Nghi thức tụng
Xem
Tín ngưỡng và triết lý Bồ Tát Quán Thế Âm
Xem
Steve Jobs qua đời ở tuổi 56, nhưng bộ não của ông mới chỉ 27 tuổi
Xem
Cậu bé vượt lên nghịch cảnh nhờ nghèo
Xem
Hạnh nhẫn nhục của bậc trượng phu chánh pháp
Xem
Bảy tôn tướng của Đức Dược Sư Như Lai
Xem
Ngăn ngừa virus corona không thể bằng việc uống vitamin C
Xem
Tự bảo vệ bản thân trong đợt dịch nCoV bằng cách nào?
Xem
Hãy sống bình dị như triết lý của Đức Đạt Lai Lạt Ma
Xem
Giúp mẹ vãng sinh Tây phương qua Trợ niệm
Xem
Giúp thanh lọc thân tâm qua việc hành thiền mỗi ngày
Xem
Lời Phật dạy về tình yêu nam nữ
Xem
Người tin vào Phật pháp, có thể cải biến số mệnh được không?
Xem
Có nên thờ Thần Tài hay không theo quan điểm Phật giáo, nhất là khi sắp đến ngày vía Thần tài?
Xem
Việc đốt vàng mã trong Phật giáo có nên hay không?
Xem
Những điều cần biết về trầm hương trong Phật giáo
Xem
Tự sát trên quan điểm của Phật giáo
Xem
Cầu nguyện hỏa hoạn AuStalia được dập tắt
Xem
Cha mẹ hãy cùng con học và hành việc thiện
Xem
Hoà thượng Thích Minh Thông cùng TT Thích Lâm Trang quang lâm chùa Viên Giác
Xem
Hướng dẫn: Trì tụng chú Đại Bi ngắn gọn
Xem
Những lưu ý về trang phục khi đi chùa
Xem
Tu hành đạo Phật trong cảnh khốn khó
Xem
Giáo lý đạo Phật bắt nguồn từ đâu
Xem
Có nên thờ tượng Phật đã sứt, mẻ?
Xem
Phật tử có bắt buộc phải tổ chức hôn lễ theo đạo Phật?
Xem
Câu chuyện đầu thai và sự giải thích dưới góc nhìn khoa học
Xem
Quá trình từ đức tin đến tu hành thành Phật diễn ra bao lâu?
Xem
10 hành động đem lại phước đức
Xem
Diệt trừ phiền giận bằng các phương pháp của Phật giáo
Xem
Ăn trứng gà trong bữa ăn chay Phật giáo?
Xem
Sự hòa hợp các tôn giáo với Phật giáo
Xem
20 câu thiền ngữ Phật dạy, giúp cuộc sống bình yên, hạnh phúc
Xem
Việc hành trì Phật pháp đối với chúng ta
Xem
Chánh niệm đối với mỗi người
Xem
Cuộc đời tu sĩ
Xem
Đức Phật tồn tại theo dòng lịch sử và thời đại
Xem
Công đức phóng sinh của Phật tử
Xem
Chắp tay trong Phật giáo có ý nghĩa như thế nào?
Xem
Đức Phật của thời đại của chúng ta
Xem
Cúng rước vía Đức Phật Di Lặc đầu năm và ý nghĩa
Xem
Chân chánh phát tâm Bồ Đề là như thế nào?
Xem
Bình an nhờ trong tâm niệm Phật
Xem
Ý nghĩa việc đến chùa tùng Kinh, niệm Phật của Phật tử
Xem
Nghiệp lực trong giáo lý của Phật Giáo
Xem
Triết lí của Phật giáo và thời đại
Xem
10 điều Phật dạy giúp cuộc sống trở nên nhẹ nhàng, tràn đầy yêu thương
Xem
Việc đốt hương trong Phật Giáo
Xem
Phương pháp tu trì Chú Đại Bi
Xem
Đời sống người xuất gia và lợi ích của ứng dụng giới luật
Xem
Tâm an vui, cảm nhận pháp lạc theo chánh pháp
Xem
Ba lạy trong Phật giáo và ý nghĩa
Xem
Về việc đi chùa đối với thanh niên thời nay
Xem
Hình tượng và ý nghĩa nụ cười của Bồ Tát Di Lặc
Xem
Hướng dẫn niệm Phật
Xem
Ba triết lý sâu sắc của Phật giáo về cuộc đời
Xem
Lời phật dạy về quan hệ thầy trò
Xem
Góc nhìn của Phật giáo về tái sinh
Xem
"Năm căn, năm lực" và ý nghĩa
Xem
Sám hối trong đạo Phật
Xem
Khi có nhiều chúng sanh cầu cứu cùng một lúc, Bồ Tát Quan Thế Âm thị hiện như thế nào?
Xem
Gia đình nghèo khó nên cúng cầu siêu như thế nào cho tròn đầy ý nghĩa?
Xem
Một câu chuyện về sức mạnh của lòng từ
Xem
Sự tích mười bảy Pháp tăng tàn
Xem
Những chỉ dẫn cốt tủy về cách tái sinh
Xem
Tinh thần Phật giáo là lý tưởng của nhân loại
Xem
Niệm Phật A Di Đà siêu độ hương linh
Xem
Hạnh phúc đích thực của con người đến từ lòng từ bi với sinh linh, vạn vật
Xem
Phải có khổ đau, mới hiểu được giá trị của hạnh phúc
Xem
Đức Phật là người bảo vệ hòa bình, chống chiến tranh
Xem
Phước đức của tự thân
Xem
Thiệt thòi là phước
Xem
Sống chung với mẹ chồng theo lời Phật dạy
Xem
Thần Chú Đại Bi: Viên ngọc của người cùng tử
Xem
Vì hạnh phúc muôn loài
Xem
Niệm Phật chuyển nghiệp được hưởng thọ phước báo
Xem
Tỷ phú Bill Gates: Người thực sự giàu là người sở hữu một trái tim giàu lòng nhân ái
Xem
Phương cách niệm Phật nào giúp dễ đạt nhất tâm bất loạn nhanh nhất?
Xem
Ăn chay chữa bệnh vảy nến
Xem
Khi lâm chung tưởng nhớ Phật, nhưng không thấy Phật, có được vãng sinh?
Xem
Làm thế nào để khuyến hóa gia đình thích sát sinh và mê tín dị đoan?
Xem
Khi bị oan uổng thị phi, có cần thanh minh không?
Xem
Liệu có sự sống sau khi chết hay không?
Xem
Đức Phật dạy có nên giết hại sinh vật để cúng giỗ người thân đã mất không?
Xem
Chuyện cảm ứng chuyển nghiệp kỳ diệu nhất do niệm Phật
Xem
Từ sự việc 39 nạn nhân tử nạn ở Anh, suy ngẫm lời Phật dạy về chọn nghề
Xem
Tại sao người giàu sang, kẻ nghèo hèn?
Xem
Phải biết quý tiếc phước báo của mình
Xem
Tư tưởng giáo dục Phật giáo
Xem
Đừng hưởng hết phước báu của mình
Xem
Vị trí và vai trò của chánh niệm
Xem
Sắc - Không trong Tâm kinh qua trí tuệ Bát Nhã
Xem
Sát sinh bị quả báo đoản mạng
Xem
Phước lạc thay sự xuất hiện của chư Phật
Xem
Đức Phật đã xử sự như thế nào khi được cung kính, cúng dường?
Xem
Đức Phật thị hiển như thế nào để cứu độ chúng sinh?
Xem
Tự độ, độ người và niệm Phật siêu độ
Xem
Lạy Phật như thế nào để được nhiều lợi ích?
Xem
Vì sao làm việc tốt không được phúc báo, lại có kẻ làm chuyện xấu mà không bị trừng phạt?
Xem
Lễ khởi công xây dựng “Mái ấm Công đoàn” cho đoàn viên khó khăn về nhà ở
Xem
Ni Trưởng Như Thanh - Ngôi sao sáng trên bầu trời Ni giới Việt Nam
Xem
Từ bi là gì?
Xem
Ứng dụng lý nhân duyên để thấu triệt lời Phật dạy
Xem
Tinh tấn tu hành có thay đổi được tướng số nhân quả không?
Xem
Xin đừng bóp méo lý tưởng xuất gia
Xem
Ươm mầm tâm linh
Xem
Những nàng tiên có thật giữa đời
Xem
Chúng ta sợ nghiệp dữ hơn hay chỉ sợ nghèo?
Xem
Nước mắt thiền sư
Xem
Lợi ích tụng Kinh niệm Phật
Xem
Quan niệm về giải thoát trong Phật giáo Nguyên thủy (II)
Xem
Làm thế nào để hóa giải nghiệp chướng, mê tín dị đoan trong gia đình?
Xem
Tam bộ nhất bái là gì? Tại sao phải đi 3 bước lại quỳ lạy sát đất 1 bước?
Xem
Đạo lực của một bậc Giác Ngộ
Xem
Giải mã ý nghĩa của tượng đức Quan Âm nghìn tay nghìn mắt
Xem
Nhất tâm, tinh tấn, vững bền trong giáo pháp của Đức Phật
Xem
Thưa mẹ, con đi tu
Xem
Bàn về việc can gián và bàn bạc trong giới luật Phật giáo
Xem
Không gian thiền vị đẹp như trong phim ở ngôi chùa hơn 1000 năm tuổi - Địa Tạng Phi Lai Tự
Xem
Ẩm thực chay trong Phật giáo Bắc Tông
Xem
Y Phật phát huy giới thân huệ mạng người xuất gia
Xem
Bộ não người như cái thùng chứa, hãy biết chọn sách để đọc
Xem
Đại Bồ Tát thành kính tri ân cúng dường những ngôi chùa lớn tại Hà Nội
Xem
Thần chú trong Phật giáo
Xem
Thượng Toạ Thích Thông Châu giảng đề tài: “Ý NGHĨA BÁO HIẾU MÙA VU-LAN”
Xem
Kênh truyền thông Đại Bồ Tát