Trang chủ > Sự giác ngộ và giải thoát của Người Phật tử
Bài viết
Bình luận

Sự giác ngộ và giải thoát của Người Phật tử

Giác ngộ và giải thoát là mục đích tối thượng hay tột cùng của người tu. Đức Phật Thích-ca Mâu-ni tu dưới cội bồ-đề được giác ngộ giải thoát sanh tử, đó là mục tiêu cuối cùng Ngài đạt được.

Giác ngộ là gì?

Danh từ giác ngộ nhiều người đã biết, nhưng thật ra biết cạn chớ không được sâu. Thế gian có những trường hợp, như người say mê rượu chè được bạn bè khuyên nhắc, họ bỏ rượu thì người ta nói anh ấy giác ngộ. Như vậy giác ngộ theo thế gian là bỏ tật xấu tập hạnh tốt. Giác ngộ đó chưa phải nghĩa giác ngộ của đạo Phật. Đạo Phật nói giác ngộ là thấu triệt được lẽ thật nơi con người từ ban sơ cho tới cuối cùng, tìm được cái từ xưa đến giờ chúng ta chưa từng biết.

Chúng ta đọc lịch sử đức Phật, thấy Thái tử bỏ ngôi vua quyết chí đi tu là do thấy cái gì? Thấy cảnh sanh, già, bệnh, chết của con người. Ngài tự biết rõ rằng người kia già rồi ta cũng phải già, người kia bệnh rồi ta cũng phải bệnh, người kia chết rồi ta cũng phải chết. Sanh, già, bệnh, chết là một qui luật không ai chối cãi được. Thấy rõ như vậy nên Ngài quyết chí đi tu, với mục đích phăng tìm cho ra con người có mặt đây là lần số một hay đã vô số lần? Mai kia nhắm mắt đi về đâu? Muốn ra khỏi sanh tử phải làm sao? Đó là những thắc mắc băn khoăn lớn của đức Phật. Như vậy, Ngài xoáy thẳng vào con người, trước khi có mặt và sau khi mất thân này, phăng cho ra manh mối đó.

Khi tu gặp các vị tiên dạy từ Sơ thiền tới Tứ thiền, Ngài chứng qua hết nhưng chưa giải quyết được ba vấn đề trọng đại của con người mà Ngài đang phăng tìm, nên Phật bỏ đi. Đến thầy khác dạy Ngài tu chứng định Tứ không là Không vô biên xứ, Thức vô biên xứ, Vô sở hữu xứ, Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Chứng được Tứ không rồi Ngài vẫn chưa giải quyết được vấn đề con người, nên cũng bỏ đi. Rõ ràng đức Phật đi tu là để giải quyết vấn đề con người, chớ không muốn tỏ ra mình là một nhà bác học gì hết, mà phải tìm cho được manh mối của con người.

Chúng ta ngày nay mê hay giác? Mê. Mê cái gì? Nhiều người cũng không biết mình mê cái gì. Đức Phật xoáy thẳng nơi con người, tất cả đều xoay lại nhìn ở con người. Cho nên, cái giác của Ngài là giác ngộ thẳng về con người. Chúng ta mê cũng là mê nơi con người. Vậy chúng ta mê cái gì? Mê là thấy thân này thật, trong khi Phật thấy thân này giả. Phật thấy thân giả nên Ngài giác, chúng ta thấy thật nên mê.

Chúng ta ngày nay mê hay giác? Mê. Mê cái gì? Nhiều người cũng không biết mình mê cái gì. Đức Phật xoáy thẳng nơi con người, tất cả đều xoay lại nhìn ở con người. Cho nên, cái giác của Ngài là giác ngộ thẳng về con người. Chúng ta mê cũng là mê nơi con người. Vậy chúng ta mê cái gì? Mê là thấy thân này thật, trong khi Phật thấy thân này giả. Phật thấy thân giả nên Ngài giác, chúng ta thấy thật nên mê.

Những vấn đề của Phật nêu lên ngày xưa, bây giờ chúng ta có thắc mắc không? Có người thắc mắc, có người thờ ơ. Đa số chấp nhận thôi phải sao chịu vậy, có mặt đây thì cứ ở đây, mai kia đi đâu cũng mặc. Đó là thái độ thờ ơ cho thân phận mình. Đức Phật không đành lòng như vậy, Ngài quyết tâm phải phăng tìm cho ra manh mối. Đến dưới cội bồ-đề, Ngài nhập định bốn mươi chín ngày đêm. Đêm cuối cùng, canh thứ nhất đức Phật chứng được Túc mạng minh, bừng sáng chuyện của mình từ vô lượng kiếp tới giờ. Trong kinh kể, Ngài nói: “Ta nhớ vô số kiếp về trước như nhớ chuyện mới xảy ra hôm qua.” Ngài biết rõ rằng con người không phải chỉ có mặt ở đây một lần, mà đã có vô số lần.

Quí vị tin điều đó không? Nếu không tin thì chúng ta sẽ không giải quyết nổi tại sao cùng một gia đình, cùng một cha mẹ sanh ra năm bảy anh em, mà không ai giống ai. Nói theo khoa học ngày nay, gen nào sanh ra giống hệt gen đó như khuôn đúc. Nhưng trên thực tế có khuôn đúc không? Không. Đó là nói về thể xác. Còn tinh thần, người thì thích cái này, người lại ưa cái khác, không ai giống ai hết. Vậy những ưa thích đó từ đâu ra? Cha mẹ không dạy, xã hội không dạy, nhưng ta lại ưa thích. Người ưa văn học, người ưa toán học, nên vào trường mỗi người giỏi mỗi môn, không ai giống ai. Như vậy để thấy sự tích lũy từ trước vẫn còn đó, bây giờ ra đời nhớ lại những cái cũ mình thích. Do thích nên học hành đúng sở thích thì giỏi, thế gian thường gọi là khiếu thông minh. Như người tu chúng tôi, cha mẹ có dạy lớn lên đi tu đâu, sao lớn lên lại đi tu. Để thấy rằng, những gì chúng ta mang từ quá khứ vẫn còn đây, nên gặp duyên ta thích việc đó, chớ không phải ai dạy hết. Con người không phải mới có mặt lần này, mà đã vô số lần rồi, vì vậy trong mỗi chúng ta mang mỗi quá khứ còn tồn đọng từ trước.

Từ canh hai đến canh ba, Ngài chứng được Thiên nhãn minh, thấy rõ chúng sanh sau khi chết theo nghiệp đi trong sáu đường luân hồi, như người đứng trên lầu cao nhìn xuống ngã tư đường thấy kẻ qua người lại một cách rõ ràng. Như vậy, chúng ta chết rồi có mất không? Không mất, mà đi theo nghiệp. Nên nhà Phật nói nhân quả, nghiệp báo để cho chúng sanh tu. Những gì Phật thấy mới dạy, chớ không phải Ngài suy lý như những nhà triết học. Do thấy rõ nên Ngài nói không một chút ngờ vực.

Từ canh ba tới canh năm, khi sao Mai mọc Ngài chứng được Lậu tận minh, dứt hết mầm sanh tử tức là giải thoát sanh tử. Từ đó Ngài mới dạy chúng sanh phương pháp tu để giải thoát sanh tử. Đức Phật đã chứng, đã biết, đã thấy rõ ràng, mới đem ra dạy cho mọi người.

Chúng ta ngày nay mê hay giác? Mê. Mê cái gì? Nhiều người cũng không biết mình mê cái gì. Đức Phật xoáy thẳng nơi con người, tất cả đều xoay lại nhìn ở con người. Cho nên, cái giác của Ngài là giác ngộ thẳng về con người. Chúng ta mê cũng là mê nơi con người. Vậy chúng ta mê cái gì? Mê là thấy thân này thật, trong khi Phật thấy thân này giả. Phật thấy thân giả nên Ngài giác, chúng ta thấy thật nên mê.

Chúng ta đang đi đứng là sống còn, vừa có cái gì bất trắc ngã đùng ra chết thì mất. Thấy đó liền mất đó thì có thật được không? Vậy mà chúng ta ngỡ là thật, không mê sao được! Mê là mê như vậy. Bởi cho thân này thật nên quí thân, những gì nó ưa thích đều muốn được thỏa mãn. Mình muốn thân mình thỏa mãn, người khác cũng muốn thân họ thỏa mãn, tất cả đều muốn vậy thành ra giành giựt nhau. Nhỏ giành giựt theo nhỏ, lớn giành giựt theo lớn. Như anh em trong gia đình, cha mẹ chết chia của cải, anh nhiều em ít không chịu, phải giành phần cho bằng cho hơn, không chịu thua. Vì vậy thấy thân thật là nhân đau khổ. Đó là nói chuyện trong một gia đình. Nói rộng hơn như vua một nước, nếu thấy thân thật thì giang sơn cũng thật. Muốn cho dân mình sung sướng thì thấy nước nào tài nguyên phong phú liền đem quân đi chiếm, đó là nhân giặc giã. Do thấy sai lầm nên lòng tham nổi dậy, gây tai hại lớn lao cho nhân loại. Đó là hiểm họa đang lan tràn trên thế gian, không yên ổn chút nào hết.

Đức Phật còn nói đem thân mạng này bố thí hết đời này qua đời khác, bao nhiêu đời cũng không bằng trì bốn câu kinh Kim Cang.

Đức Phật còn nói đem thân mạng này bố thí hết đời này qua đời khác, bao nhiêu đời cũng không bằng trì bốn câu kinh Kim Cang.

Ngược lại, nếu thấy thân giả thì sao? Đa số sẽ nói tiêu cực. Giả thì lo chi, cần gì làm việc. Bồ-tát thấy thân mình giả, thân chúng sanh giả, các ngài lăn xả vào đời cứu độ chúng sanh không niệm ngán sợ. Tại sao? Cái giả mà chúng sanh lầm cho là thật nên giành giựt, giết hại lẫn nhau, các ngài có bổn phận phải đánh thức họ, chỉ cho biết giả đừng lầm lẫn nữa. Như vậy các ngài càng biết giả càng thương những người mê. Chúng ta thấy thân thật nên ít thương ai. Chỉ thương những người thân thuộc của mình, còn chung quanh mặc kệ, không thương. Bồ-tát thấy cuộc đời tạm bợ, con người có đó rồi mất đó, không bền lâu mà chúng sanh lại chìm đắm đau khổ trong ấy nên các ngài dấy khởi lòng từ bi muốn cứu độ chúng sanh. Nhờ giác ngộ mới có từ bi, nếu không giác ngộ sẽ không có từ bi.

Chúng ta làm việc thiện nhưng không phải từ bi mà là ích kỷ. Ví dụ nói bố thí giúp người nghèo, sau sẽ được phước giàu sang. Như vậy bố thí vì mình chớ không phải vì người. Bố thí ấy không phải từ bi. Từ bi là vì người chớ không vì mình. Chúng ta mê lầm ở chặng thứ nhất là thấy thân này thật, nên cấu xé giành giựt, làm khổ cho nhau. Nếu thấy thân giả thì anh em trong nhà có mặt đây tạm bợ vài chục năm rồi cũng đi, tranh gia tài làm chi, thôi thì chia nhau sống tạm mà. Đối với xã hội cũng vậy, mọi người cùng sống trong cõi tạm, biết rõ như vậy thì phải bảo bọc nhau sống ngày nào vui ngày ấy, giành giựt chi cho khổ. Nhờ biết đúng lẽ thật, chúng ta dễ thương nhau hơn. Đó là lẽ thật người Phật tử phải biết.

Mê thứ hai là mê tâm mình. Quí vị nghĩ cái gì là tâm mình? Là tinh thần phải không? Khi thương ai nói tôi thương người đó, ghét ai nói tôi ghét người đó, giận ai nói tôi giận người đó. Một trăm thứ, nghĩ cái gì cũng tôi hết, khởi nghĩ là tôi. Chấp thân tạm bợ là tôi, chấp tâm sanh diệt đổi thay là tôi. Tâm sanh diệt đổi thay cho là tôi thì có bao nhiêu cái tôi? Vô số. Tâm ấy là một dòng suy nghĩ sanh diệt, không phải cái thường còn. Cái sanh diệt làm sao chân thật được. Tâm sanh diệt không thật mà chấp thật nên khi nghĩ điều gì cho là đúng, ai phản bác mình giận, ai hoan nghênh mình vui. Thế gian không biết bao nhiêu cái đau khổ, vì người ta cho là lý tưởng. Thọ, tưởng, hành, thức, Phật bảo là không, chúng ta lại nói thật, rồi đặt thành lý tưởng. Thế là lý tưởng này chống lý tưởng kia. Một hai người chống nhau chỉ mới là luận chiến, nhiều người chống nhau thì kéo quân đánh ầm ầm. Như vậy con người chấp thân nên giành vật chất để hưởng, chấp tâm nên giành lý tưởng tốt về mình, do đó mà tranh đấu không dừng nghỉ. Đó là cái khổ của nhân loại.

Nói xa một chút, nhiều người thấy ai tài giỏi, thông minh đều gọi là nhà trí thức. Trí thức với trí tuệ giống nhau hay khác nhau? Đây là điều thế gian ít để ý. Trong nhà Phật chia tuệ làm hai trường hợp: Tuệ sanh diệt, từ chuyên môn chữ Hán gọi là Hữu lậu. Tuệ xuyên suốt không còn sanh diệt gọi là Vô lậu. Hữu lậu có ba: Văn, Tư, Tu. Người đến với đạo Phật trước phải học. Văn là nghe học, học giáo lý Phật cho hiểu. Đạo Phật không chấp nhận học bằng cách nghe sao hiểu vậy, mà bắt chúng ta phải suy gẫm, đó là Tư. Nghe rồi suy gẫm xem có đúng không, chừng nào thấy đúng mới qua trường hợp thứ ba là Tu tức thực hành.

Vậy Văn tuệ, Tư tuệ, Tu tuệ là ba trí tuệ còn trong sanh tử. Tại sao? Vì kinh do Phật nói, chúng ta học lời của Ngài, hiểu được lời Phật dạy ứng dụng tu, đó là trí tuệ nhưng là trí tuệ ở ngoài được, nên thuộc về hữu lậu. Còn thế gian người ta học lý thuyết này, lý thuyết nọ, thông hiểu nói ra lưu loát, đem lý thuyết chứng minh lập luận của họ gọi là trí thức. Nghĩa là đem cái thức phân biệt của mình để xét đoán những triết lý, rồi phê phán đúng sai v.v… Những nhà trí thức còn được gọi là học giả hay nhà bác học. Học là cái ở ngoài đem vào, nên chưa phải cái thật của mình.

Trí tuệ vô lậu mà đức Phật dạy có ba thứ Giới, Định, Tuệ còn gọi là Tam giải thoát môn. Nói cách khác từ giới sanh ra định, từ định sanh ra tuệ. Như vậy cái tuệ này từ định phát sanh, không do học bên ngoài. Thế nên trí tuệ vô lậu có sẵn nơi mình, khai thác được trí tuệ này là trí tuệ chân thật. Tuệ này khi phát hiện ra được có ba từ để gọi: Vô sư trí, Tự nhiên trí, Căn bản trí. Nó là trí sẵn từ thuở nào nơi mình, mà chúng ta không biết dùng. Bây giờ muốn dùng nó phải đi từ Giới để gỡ bớt những buộc ràng bên ngoài rồi qua Định, tâm định Tuệ mới phát. Như vậy tuệ vô lậu là tuệ của mình chớ không phải học. Tuệ này từ tu hành mà hiển lộ.

Chúng ta học Phật, hiểu Phật là phải đi sâu vào trí tuệ vô sư. Chúng ta ngồi thiền để định. Định cái gì? Định tâm điên đảo sanh diệt của mình, cho nó dừng lại. Nó dừng hoàn toàn rồi thì trí tuệ sẵn có hiện đủ. Có người nói ngồi thiền bỏ hết vọng tưởng rồi ngu sao? Vì họ cho rằng cái khôn đối đãi sanh diệt là khôn thật. Đó là hiểu sai lầm. Trí tuệ chân thật chỉ xuất hiện khi tâm an định.

Chúng ta giác ngộ là giác ngộ cái gì? Trước nhất giác ngộ thân này giả, kế đến giác ngộ tâm sanh diệt là giả. Biết hai cái đó giả rồi thì sự tu hành dễ như trở bàn tay. Sở dĩ chúng ta tu chậm tiến là vì cứ nhớ những chuyện liên hệ tới thân. Hôm qua mình bị ai rầy, hoặc làm ăn thất bại, tiền của suy giảm, lý luận với ai bị thua, làm sao cho hơn họ…, cứ nhớ đi nhớ lại những thứ ấy. Do chấp thân, chấp tâm nên ngồi thiền không yên. Khi đã biết thân giả, biết tâm sanh diệt giả chúng ta ngồi thiền dễ yên lắm.

Chúng ta hiểu giác thì phải tập giác, ngày nay chưa được ngày mai tiếp tục. Ông hàng thịt còn chuyển cái một, chúng ta đâu có tội lỗi bằng ông hàng thịt. Nếu không chuyển được là chưa biết tu Phật.

Chúng ta hiểu giác thì phải tập giác, ngày nay chưa được ngày mai tiếp tục. Ông hàng thịt còn chuyển cái một, chúng ta đâu có tội lỗi bằng ông hàng thịt. Nếu không chuyển được là chưa biết tu Phật.

 

Biết thân giả, tâm sanh diệt giả, lúc đó là giác, mà giác thì thành Bồ-tát con rồi. Bồ-tát là phần giác tức giác ngộ từng phần. Như vậy Bồ-tát cách chúng ta xa gần? Chỉ như trở tay thôi. Chiều này là mê, lật ngược lại là giác chớ có gì đâu. Ai nhìn đúng lẽ thật là giác, nhìn sai lầm là mê. Trong kinh Kim Cang Phật dạy rất đơn giản: “Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng, nhược kiến chư tướng phi tướng, tức kiến Như Lai.” Nghĩa là những gì có tướng đều hư dối, nếu thấy các tướng chẳng phải tướng tức là giả, đó là thấy Phật, vì Phật là giác.

Như vậy tu dễ hay khó? Chỉ đổi cái thấy thôi. Giả biết giả, chuyện đó hợp lý trăm phần trăm sao lại nói khó! Lâu nay chúng ta đi trong mê nhiều kiếp nhiều đời quá, nên bây giờ chuyển lại giác khó, chớ không phải chuyện tu khó. Thấy thân thật chuyển qua thấy thân giả chừng bao lâu? Tích tắc hà, dễ quá chừng! Vậy mà chúng ta tu hoài không nổi. Kinh Kim Cang Phật nói, giả sử có người đem của bảy báu nhiều bằng núi Tu-di bố thí, không bằng người trì bốn câu kinh Kim Cang. Nhẹ làm sao! Trì tụng bốn câu kinh Kim Cang có khó gì? Còn của báu chất bằng núi Tu-di, muôn kiếp mình cũng chưa làm được nữa. Vậy tại sao Phật lại nói thế? Đó là để chỉ dạy chúng ta mê thân thật thì mê cảnh thật, mê tất cả sự vật hình tướng bên ngoài đều thật. Nhưng thật ra những gì có tướng đều do duyên hợp, tạm bợ, đủ duyên còn, hết duyên mất, chớ không còn mãi. Vậy được bao nhiêu cái giả đi nữa cũng chỉ là giả. Đem cái giả tạm đổi lấy cái thật thì không có gì sánh nổi. Trì bốn câu kinh Kim Cang tức là nhận và sống với cái thật của mình.

Đức Phật còn nói đem thân mạng này bố thí hết đời này qua đời khác, bao nhiêu đời cũng không bằng trì bốn câu kinh Kim Cang. Quí vị nghe không sao hiểu nổi. Nhưng có gì lạ đâu, vì tất cả sanh mạng của chúng ta hiện giờ chỉ mấy chục năm rồi hoại, không thật. Còn bốn câu kinh Kim Cang là chân lý, là lẽ thật muôn đời không thay đổi. Nắm được chân lý thật mà sống thì mới siêu thoát, vượt hơn tất cả. Nếu chúng ta nhìn sự vật đúng với con mắt thức tỉnh thì kinh Phật nói rõ như ban ngày, không có gì nghi ngờ hết.

Nhà Phật dạy chúng ta giác thẳng nơi con người, chớ đừng tìm cầu bên ngoài. Nếu giác thẳng con người rồi thì ở ngoài cũng giác, nếu mê con người thì ở ngoài cũng mê luôn. Cho nên trọng tâm đặt ở con người. Tất cả chúng ta học Phật là học đạo giác ngộ, mà không chịu giác thì không biết học cái gì? Có người càng học lại càng mê, nên mới đi cúng chỗ này chỗ kia, cầu xin ông này bà nọ đủ thứ hết. Đó là sai lầm lớn của người học Phật. Đạo Phật là con đường, là phương pháp đưa chúng ta tới giác ngộ. Đã đi con đường giác ngộ mà lại trở thành mê, thật không có lý chút nào.

Giác ngộ rồi mới tới giải thoát, không giác ngộ thì không bao giờ giải thoát được. Trong kinh Viên Giác, Bồ-tát Văn-thù hỏi Phật: “Thế nào là vô minh?” Đức Phật dạy: “Chấp thân tứ đại là thật, chấp tâm sanh diệt duyên theo bóng dáng sáu trần là thật, đó là vô minh.” Vô minh là gốc của luân hồi sanh tử. Nếu thấy thân tứ đại không thật và tâm hư dối không thật, đó là minh. Như vậy vô minh với minh ở cạnh một bên, không xa xôi gì hết. Chúng ta tu muốn cầu cái gì? Cầu minh bỏ vô minh, cầu giác bỏ mê. Cầu ở ai? Ở mình, tất cả gốc từ mình mà ra. Thay đổi cái nhìn, từ sai lầm chuyển qua thức tỉnh thì hết mê. Hết mê là giác, giác một phần là Bồ-tát nhỏ, Bồ-tát con. Như vậy từ một kẻ phàm phu chuyển qua Bồ-tát có khó không? Không khó, rất là dễ. Cho nên một hôm ông bán thịt nghe lời Thiền sư dạy, liền thức tỉnh làm kệ:

Tạc nhật dạ-xoa tâm,

Kim triêu Bồ-tát diện,

Dạ-xoa dữ Bồ-tát,

Bất cách nhất điều tuyến.

Hôm qua mê là tâm dạ-xoa, ngày nay giác là mặt Bồ-tát. Bồ-tát với dạ-xoa không cách một đường tơ. Như vậy tại sao chúng ta cứ sợ khó, chớ chi có cái gì ngăn trở mình chuyển không được mới là khó. Đằng này mình trọn quyền chuyển mê thành giác, không thần Thánh nào xen vào ngăn cấm cả, chuyển không được là tại chúng ta không quyết chí chuyển thôi. Nếu đã trọn quyền thì có kêu trời kêu đất không? Việc gì đến là lỗi tại mình, chớ không phải trời Phật xui khiến đâu. Hiểu như vậy mới thấy tu Phật có một sức mạnh phi thường. Chúng ta hiểu giác thì phải tập giác, ngày nay chưa được ngày mai tiếp tục. Ông hàng thịt còn chuyển cái một, chúng ta đâu có tội lỗi bằng ông hàng thịt. Nếu không chuyển được là chưa biết tu Phật.

Phật dạy chúng ta dừng cái biết suy nghĩ, để cái biết chân thật hiện ra. Cái biết chân thật không tướng mạo nên nó trùm khắp, luôn hiện tiền không vắng thiếu nên nó thường trực. Cái thường trực không sanh, không diệt, không tướng mạo, làm gì có vô thường!

Phật dạy chúng ta dừng cái biết suy nghĩ, để cái biết chân thật hiện ra. Cái biết chân thật không tướng mạo nên nó trùm khắp, luôn hiện tiền không vắng thiếu nên nó thường trực. Cái thường trực không sanh, không diệt, không tướng mạo, làm gì có vô thường!
 

Thế nào là giải thoát?

Nói đến giải thoát là giải thoát cái gì? Nếu thân không thật, tâm suy nghĩ không thật, còn gì để chúng ta giải thoát? Cái gì ra khỏi sanh tử luân hồi? Tâm. Tâm nào? Đó là vấn đề sâu sắc tế nhị mà người đời không biết. Đức Phật khi thành đạo, Ngài trù trừ không chịu đi giảng, trải qua thời gian năm mười ngày. Khi chư thiên xuống yêu cầu xin Thế Tôn mở phương tiện để giáo hóa chúng sanh, Phật bảo vì cái thấy của ta nói người khác không hiểu. Chư thiên năn nỉ nhiều lần Phật mới chấp nhận dùng phương tiện để độ chúng sanh. Sau đó Ngài đến vườn Lộc Uyển nói pháp Tứ đế. Ngài không chỉ thẳng cái mình thấy, mà dạy pháp khác. Như vậy hai cái có khác không? Kinh Phật thường hay nói: “Giáo lý của ta như ngón tay chỉ mặt trăng hay như bè đưa khách qua sông.” Đó là phương tiện, không phải cứu kính. Thấy mặt trăng thì phải bỏ ngón tay, qua bờ rồi phải bỏ thuyền bè. Biết được phương tiện chúng ta mới khỏi hiểu lầm. Như vậy chỗ Phật thấy nhưng không nói được là chỗ nào?

Tôi dẫn câu chuyện trên hội Linh Sơn, đức Phật ở trước đại chúng đông vầy không nói một lời, đưa cành hoa sen lên rồi nhìn khắp đại chúng. Mọi người đều ngơ ngác, tới ngài Ca-diếp thì Ca-diếp mỉm cười. Phật nói: “Ta có chánh pháp nhãn tạng, Niết-bàn diệu tâm, thật tướng vô tướng, nay trao cho Ca-diếp.” Lúc đó Phật có nói lời gì đâu mà trao. Chỗ này quí vị không suy gẫm nổi, suy gẫm là trật. Đây là chỗ bí hiểm, nhưng thật ra không bí hiểm chút nào hết mà tại chúng ta quên. Câu chuyện đó tạm dừng lại, tôi dẫn thêm câu chuyện khác.

Trong kinh Lăng Nghiêm, đức Phật đưa tay lên hỏi A-nan: “Ông thấy không?” A-nan thưa: “Dạ thấy.” Phật để tay xuống hỏi: “Ông thấy không?” A-nan thưa: “Dạ, không thấy.” Phật quở: “Ông quên mình theo vật.” Tay là đối tượng của cái thấy. Tay đưa thì thấy có cái tay, tay để xuống thì thấy không có tay, sao lại nói không thấy! Cái thấy đó của ai? – Của mình. Nó có suy nghĩ không? – Không. Có biết không? – Biết. Thấy cái tay liền biết cái tay, có suy nghĩ gì đâu. Cái tay là đối tượng, cái thấy là của mình mà chúng ta quên. Khi có tay nói có thấy, khi không tay nói không thấy, đó là quên mất cái thật đang hiện tiền.

Phật bảo La-hầu-la đánh tiếng chuông, rồi hỏi A-nan: “Có nghe không?” A-nan thưa: “Dạ nghe.” Phật bảo đánh tiếng chuông nữa hỏi có nghe không. A-nan cũng thưa: “Dạ nghe.” Khi tiếng chuông im bặt, Phật hỏi A-nan: “Có nghe không?” A-nan thưa: “Dạ, không nghe.” Phật liền quở: “Tiếng chuông là tiếng ở bên ngoài, còn cái nghe là cái của ông. Tiếng chuông qua mất, còn cái nghe hiện tiền, sao lại không nghe?” Chúng ta có bị lỗi này không? – Có. Đó là quên mình theo vật. Cho tiếng là mình, có tiếng thì có mình, có nghe; không tiếng thì không có mình, không có nghe. Chúng ta quên mất cái hay nghe là mình, tiếng là cái bị nghe, vì vậy Phật quở quên mình theo vật.

Nghe tiếng chuông biết tiếng chuông mà khỏi suy nghĩ, nghe chim kêu biết chim kêu cũng không suy nghĩ. Biết mà không suy nghĩ thì cái biết đó thật hay giả? – Thật. Có suy nghĩ là có sanh diệt, biết mà không suy nghĩ thì không sanh diệt. Cái biết đó tuy có nhưng diễn tả không được vì nó không hình tướng, không dấy động. Lúc nào nó cũng thường trực nhưng chúng ta lại quên. Vì vậy Phật đưa cành sen lên không nói gì hết, mọi người không hiểu, tới ngài Ca-diếp, Ngài cười. Cười tức là biết Phật muốn nói gì rồi. Chỉ có cái chân thật từ mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý hiện tiền nên ta mới thấy. Vậy mà mình quên, chạy theo suy nghĩ lăng xăng trong đầu, nên không nhận ra cái biết thường trực đó.

Bất phàm hà tất mịch thần tiên. Mình không phàm thì cầu thần tiên làm gì? Tại sao không phàm? Vì ngay nơi chúng ta có Tánh giác sẵn, mà Tánh giác là Phật rồi. Vậy nếu giác ngộ thì mình là Phật. Giác ngộ cái gì? Giác ngộ cái sẵn có của mình. Vậy mà thiên hạ lo trèo non lội suối tìm Thánh tìm thần để học đạo, không biết quay lại mình.

Bất phàm hà tất mịch thần tiên. Mình không phàm thì cầu thần tiên làm gì? Tại sao không phàm? Vì ngay nơi chúng ta có Tánh giác sẵn, mà Tánh giác là Phật rồi. Vậy nếu giác ngộ thì mình là Phật. Giác ngộ cái gì? Giác ngộ cái sẵn có của mình. Vậy mà thiên hạ lo trèo non lội suối tìm Thánh tìm thần để học đạo, không biết quay lại mình.

Phật muốn chỉ cho đại chúng cái lâu nay mình có nhưng lại quên. Song vì nó không hình tướng nên thật khó chỉ. Vì vậy Ngài mượn phương tiện đưa cành hoa sen lên, ai khéo sẽ nhận ra cái hay thấy thường trực nơi mình. Cũng thế, những lúc chúng ta ngồi thản nhiên tự tại, đầu óc không suy nghĩ gì trong một hai phút, lúc đó chúng ta vẫn thấy nghe như thường. Rõ ràng cái biết hiện tiền, nhưng chúng ta quen chạy theo những suy nghĩ phân biệt nên bỏ mất cái biết chân thật. Bây giờ Phật dạy chúng ta dừng cái biết suy nghĩ, để cái biết chân thật hiện ra. Cái biết chân thật không tướng mạo nên nó trùm khắp, luôn hiện tiền không vắng thiếu nên nó thường trực. Cái thường trực không sanh, không diệt, không tướng mạo, làm gì có vô thường!

Hiện giờ chúng ta là những người đáng thương, quên cái thật chạy theo cái giả, chấp cái giả là thật nên không nhận ra được cái thật. Vì vậy Phật dạy ngồi thiền để chặn dòng suy nghĩ lăng xăng, bao giờ chúng lặng rồi thì cái biết chân thật trùm khắp hiện tiền. Khi tâm trong sáng không bị che lấp gì hết, chúng ta mới giải thoát sanh tử. Nói tới giải thoát, tôi dẫn một ít câu chuyện như sau:

 

Tổ Tăng Xán ở Trung Hoa, một hôm gặp chú Sa-di mới mười hai tuổi tên là Đạo Tín. Đạo Tín thưa: “Bạch Hòa thượng, xin Hòa thượng dạy con pháp môn giải thoát.” Tổ hỏi: “Ai trói buộc ông?” Đạo Tín nhìn lại thưa: “Dạ không ai trói buộc.” Tổ bảo: “Không ai trói buộc, cầu giải thoát làm gì?” Ngay đó Đạo Tín liền ngộ. Không ai trói buộc mình, chỉ vì chúng ta có cái thật nhưng quên. Bây giờ nhận ra cái thật là giác ngộ, giác ngộ thì giải thoát.

Câu chuyện thứ hai, ngài Trần Nhân Tông ở Việt Nam lúc tu ở núi Yên Tử ngộ đạo, Ngài có làm bài “Sơn phòng mạn hứng” tức là hứng thú ở hang núi:

Thùy phược cánh tương cầu giải thoát,

Bất phàm hà tất mịch thần tiên.

Viên nhàn mã quyện nhân ưng lão,

Y cựu vân trang nhất tháp thiền.

Thùy phược cánh tương cầu giải thoát, là ai trói mà ta lại cầu giải thoát?

Bất phàm hà tất mịch thần tiên. Mình không phàm thì cầu thần tiên làm gì? Tại sao không phàm? Vì ngay nơi chúng ta có Tánh giác sẵn, mà Tánh giác là Phật rồi. Vậy nếu giác ngộ thì mình là Phật. Giác ngộ cái gì? Giác ngộ cái sẵn có của mình. Vậy mà thiên hạ lo trèo non lội suối tìm Thánh tìm thần để học đạo, không biết quay lại mình.

Viên nhàn mã quyện nhân ưng lão, tức là vượn nhàn ngựa mỏi, người đã già. Tất cả con vật trên thế gian cho đến người đều từ khỏe mạnh trẻ trung đi tới già lão rồi chết.

Y cựu vân trang nhất tháp thiền, tức là như cũ ở vân trang một võng thiền. Nghĩa là về thân tất cả loài vật đều đi tới chỗ sanh, già, bệnh, chết; chỉ có ở vân trang một vườn thiền còn nguyên. Hình ảnh này biểu trưng cho thân tâm sanh diệt đều bại hoại, còn cái chân thật không bao giờ bại hoại. Cái chân thật đó là chỉ cho tâm sẵn nơi mỗi chúng ta. Tâm là cái biết. Cái biết suy nghĩ gọi là vọng tâm, cái biết không suy nghĩ là Chân tâm. Tất cả chúng ta đều có sẵn hai cái biết đó. Suy nghĩ là một dòng tư tưởng liên tục. Còn biết không suy nghĩ có dòng nào không? Nó nguyên trạng không có cái gì lạ hết mà hằng biết. Gió qua nghe mát biết mát, chim kêu nghe tiếng biết chim, người đi thấy người biết người, không có chút suy nghĩ. Chúng ta có cái biết sẵn như vậy mà bỏ quên, lại chạy theo cái biết sanh diệt lăng xăng cho là mình. Cái biết sanh diệt lăng xăng tạo nghiệp đi trong sanh tử, chúng ta cứ bám vào nó trách gì không luân hồi sanh tử. Còn sống được với cái hằng biết không tướng mạo, không sanh diệt thì ra khỏi sanh tử.

Thật ra quí vị nói tu khó tôi thông cảm lắm. Tại sao? Vì một người tỉnh ở trong trăm ngàn người mê. Người tỉnh nói thì những người mê bảo điên, thành ra nói không được, riết người tỉnh cũng mê luôn. Đó là cái khó. Chớ nếu người tỉnh nói với những người tỉnh thì dễ biết mấy. Ví dụ, có một Phật tử đi chợ, vô cớ có người kiếm chuyện mắng nhiếc. Sau Phật tử có anh chị em đi theo. Người tu khá nhịn bỏ qua không cãi lại, nhưng mấy anh chị em đi theo chê chị ngu quá hoặc anh ngu quá. Nghe chê ngu, Phật tử tức cũng cãi lại, rốt cuộc ngu cả đám. Cho nên tu hành nên gần gũi những bạn lành để huynh đệ cùng nhau sách tấn, như vậy mới giữ được niệm hiền lành chân thật của mình. Ngược lại cứ ở trong đám mê hoài thì khó mà tu tiến.

Khi được giải thoát, không phải là hết mà chúng ta có cái biết chân thật, không sanh diệt gọi là Chân tâm, Phật tánh lưu xuất ra vô số diệu dụng.

Khi được giải thoát, không phải là hết mà chúng ta có cái biết chân thật, không sanh diệt gọi là Chân tâm, Phật tánh lưu xuất ra vô số diệu dụng.

Chỗ tu hành, nhất là tu thiền, ít ai hiểu được. Như Lâm Tế hồi xưa tới Tổ Hoàng Bá hỏi: “Bạch Hòa thượng, thế nào là đại ý Phật pháp?” Hoàng Bá đập cho một gậy, không nói lời nào hết. Tàn nhẫn chưa! Năm ba hôm sau thầy Thủ tọa xúi Ngài hỏi Hòa thượng nữa đi. Ngài lên hỏi cũng ăn gậy nữa. Hỏi ba lần, ngài Hoàng Bá đều cho ăn gậy cả ba, Ngài chùi nước mắt lui xuống, trong lòng nghĩ chắc hết duyên rồi nên định cuốn gói đi. Thủ tọa biết nên bảo trước khi đi huynh lên từ giã Hòa thượng. Ngài Hoàng Bá hỏi: “Ông tính đi đâu?” Ngài thưa: “Vì con hết duyên ở đây nên phải đi nơi khác, chớ không biết đi đâu?” Hoàng Bá bảo: “Ông qua Đại Ngu sẽ chỉ cho.”

Lâm Tế đi tới Thiền sư Đại Ngu. Đại Ngu hỏi: “Ông từ đâu đến?” Lâm Tế thưa: “Con ở chỗ Hoàng Bá đến.” Đại Ngu hỏi: “Hoàng Bá đã dạy gì?” Lâm Tế thuật lại: “Con ba lần hỏi thế nào là đại ý Phật pháp, ba lần đều ăn đòn. Không biết con có lỗi hay không lỗi?” Đại Ngu nắm hai vai Lâm Tế đẩy, nói: “Ông được Hoàng Bá chỉ chỗ tột cùng mà còn nói có lỗi không lỗi.” Nghe đến đây Lâm Tế liền ngộ, nói: “Phật pháp Hoàng Bá rất ít.” Đại Ngu nắm đứng hỏi: “Khi nãy nói có lỗi không lỗi, bây giờ thấy cái gì mà nói Phật pháp Hoàng Bá rất ít?” Lâm Tế liền thoi cho Đại Ngu một thoi. Đại Ngu xô ra, nói: “Thầy ngươi là Hoàng Bá, chẳng can hệ gì tới ta.” Lâm Tế trở về Hoàng Bá, sau trở thành vị khai Tổ nổi tiếng tông Lâm Tế, dòng thiền này truyền thừa tới Việt Nam.

Cũng ý đó, tôi dẫn một Thiền sư Việt Nam. Vua Lê Dụ Tông hỏi Thiền sư Hương Hải: “Thế nào là ý của Phật?” Thiền sư Hương Hải đáp bằng bốn câu thơ:

Nhạn quá trường không,

Ảnh trầm hàn thủy,

Nhạn vô di tích chi ý,

Thủy vô lưu ảnh chi tâm.

Dịch:

Nhạn bay qua trong không,

Ảnh hiện đầm nước lạnh,

Nhạn không ý lưu bóng,

Nước không tâm giữ nhạn.

Ý nói chim nhạn bay qua trong không, bóng hiện dưới hồ, dưới sông. Chim nhạn không có ý lưu bóng dưới hồ, dưới sông. Nước sông cũng không có ý giữ lại bóng nhạn. Đó là Phật ý.

Tổ Lâm Tế hỏi đại ý Phật pháp bị đánh, vua Dụ Tông hỏi ý Phật được trả lời bằng bốn câu thơ: chim nhạn bay trên không, bóng rơi xuống dưới nước, nhạn không có ý lưu bóng dưới nước, nước cũng không có ý giữ bóng của nhạn. Đó là ý Phật. Hiểu được ý này thì hiểu cái đánh của Tổ Hoàng Bá.

Sự truyền pháp của Trung Hoa và Việt Nam về hình thức có khác, nhưng nội dung không khác. Nếu chim nhạn bay qua có ý để bóng dưới nước hay nước có ý giữ bóng chim nhạn, thì hai bên đều có ý dính mắc. Ở đây nhạn không có ý, nước cũng không ý, để nói rằng đối với tất cả cảnh, ta và cảnh không vướng mắc. Chim nhạn ví cho người, nước ví cho cảnh. Người, cảnh thấy là thấy, nghe là nghe, đừng thêm niệm đẹp xấu, khen chê, thì cái thấy, cái nghe đó là ý Phật.

Hỏi thế nào là đại ý Phật pháp, đập cho một gậy là chỗ không suy nghĩ được. Vừa khởi nghĩ là trật rồi không phải ý Phật, cho nên đánh một gậy cho bặt không còn nghĩ gì hết. Nhưng Lâm Tế cứ nghĩ vì Ngài chưa hiểu. Tới chừng Thiền sư Đại Ngu hỏi, Ngài nói không biết con có lỗi hay không lỗi. Đại Ngu bảo Hoàng Bá là tâm lão bà chỉ tột cho ông, mà còn thấy có lỗi không lỗi, là còn hai bên. Nghe đến đó Ngài liền ngộ, chỉ chỗ không hai bên, không có niệm suy nghĩ mới là chỗ thật. Ngài Đại Ngu hỏi ông thấy gì mà nói Phật pháp Hoàng Bá rất ít, Lâm Tế thoi cho một thoi vì chỗ đó nói không được, chỉ còn thoi thôi. Các Tổ ở Trung Hoa rất bạo, còn chư Tổ Việt Nam hiền lành hơn, dùng thơ nói vậy thôi, nhưng cũng đều chỉ cái ấy.

Ngài Điều Ngự Giác Hoàng, làm bài “Cư trần lạc đạo phú”, kết thúc bằng bốn câu thơ chữ Hán:

Cư trần lạc đạo thả tùy duyên,

Cơ tắc san hề khốn tắc miên,

Gia trung hữu bảo hưu tầm mích,

Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền.

Dịch:

Ở đời vui đạo hãy tùy duyên,

Đói đến thì ăn mệt ngủ liền.

Trong nhà có báu thôi tìm kiếm,

Đối cảnh không tâm chớ hỏi thiền.

Chính mình dừng suy nghĩ rồi mới đạt tới chỗ chân thật. Khi đạt đến chân thật viên mãn rồi có những diệu dụng phi thường, tức là chân không mà diệu hữu, do công năng chuyển thức thành trí.

Chính mình dừng suy nghĩ rồi mới đạt tới chỗ chân thật. Khi đạt đến chân thật viên mãn rồi có những diệu dụng phi thường, tức là chân không mà diệu hữu, do công năng chuyển thức thành trí.

Câu “đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền”, tức thiền ngay đó đừng hỏi nữa. Rõ ràng các ngài

Các bài viết liên quan
Xem
Những con số bảy trong kinh tạng Pali
Xem
Nghiệp và số mệnh đồng hay khác?
Xem
Thưởng lãm các bức thư pháp "thiền định" của Thiền sư Thích Nhất Hạnh
Xem
Con đường và hương vị giải thoát
Xem
Pháp tu niệm Phật trong thời Thế Tôn tại thế
Xem
Tổ đình Từ Hiếu: Miền an lạc chốn thiền môn xứ Huế
Xem
Rừng hay ngôn ngữ của sự sống
Xem
Bệnh nhân 91 xuất viện, trở về Anh
Xem
Thấp thoáng lời kinh Quán Thế Âm
Xem
Căn tu là gì?
Xem
Phát tâm tu, khi nghiệp quả đến có thay đổi từ nặng sang nhẹ không?
Xem
Một quyết định nhân văn của Siem Reap - Campuchia
Xem
Ni giới và những lời Phật dạy
Xem
Những lời dạy cuối cùng của Đức Phật
Xem
Giới luật – tìm lại niềm tin nơi Phật tử
Xem
Nguồn gốc và ý nghĩa của Chuông, Mõ, Khánh trong Phật giáo
Xem
Theo Phật xuất gia truyền thừa Phật pháp
Xem
Chính ngữ: Giải pháp phòng, chống bạo hành bằng lời nói
Xem
Món quà cuộc sống
Xem
Thông điệp của Đức Dalai Lama nhân khánh tuế thứ 85
Xem
Xuất gia để làm gì?
Xem
Vì sao ta phải sống trong đau khổ lầm mê?
Xem
Danh xưng Chư tôn đức Tăng trong Tòng lâm Phật giáo Bắc truyền
Xem
Phật dạy về nghiệp báo sai biệt của mỗi người
Xem
Phật tử vì sao mà phải tín ngưỡng Tam Bảo?
Xem
Thiền sư Thích Nhất Hạnh: Ăn trong chánh niệm, Sống trong tỉnh thức
Xem
Stephen Cameron trở về từ cận tử nghiệp
Xem
Tin Phật là con người đã giác ngộ hoàn toàn
Xem
Hễ xem kinh sách thì buồn ngủ phải làm sao?
Xem
Ý nghĩa thâm sâu từ tư thế ngủ của Đức Phật
Xem
Bệnh dưới lăng kính Phật giáo
Xem
Địa ngục trần gian và nỗi khổ con người
Xem
Bức thông điệp từ con người của Đức Phật
Xem
Ý nghĩa và lợi ích khi trì chú Văn Thù Sư Lợi Bồ tát
Xem
Tu như cứu lửa cháy dầu
Xem
Phật dạy tham ăn uống làm con người khổ
Xem
Cái chết có trong sự sống
Xem
Ý nghĩa của câu "Ta bà ha" ở cuối các các câu thần chú
Xem
Nghi thức lạy sám hối 35 vị Phật
Xem
Nhân quả và con đường chuyển hóa
Xem
Đức Phật dạy thế nào là người đàn ông lý tưởng?
Xem
Quán Thế Âm Bồ Tát là huynh đệ của chúng ta
Xem
Yên lặng ở nội tâm
Xem
Nghiệp dẫn chúng sinh đi trong luân hồi sống chết
Xem
Những câu danh ngôn của Thiền sư Thích Nhất Hạnh
Xem
Liên Hợp Quốc tổ chức kỷ niệm Ngày Quốc tế Phật đản
Xem
An cư kiết hạ là gì? Ý nghĩa của An cư kiết hạ
Xem
Sống an lạc qua giáo lý “tứ đại giai không”
Xem
Cách cúng thí thực để có được nhiều lợi ích và phước báu
Xem
Hành xứ của người xuất gia
Xem
Về thăm chùa Bộc, nơi thờ "Hoàng đế" Quang Trung
Xem
Nhất niên Phật hiện tiền, nhị niên Phật thăng thiên, tam niên bất kiến Phật
Xem
Đức Phật cảm hóa Angulimāla: Nhiều bài học quý
Xem
Nghĩ về hai chữ “công” và “đức” của hòm “công đức”
Xem
Hình thức và ý nghĩa lễ bái trong đạo Phật
Xem
5 phận sự của Đức Phật
Xem
Muốn học Phật trước tiên phải biết hiếu dưỡng cha mẹ
Xem
Sự khác nhau trong các danh xưng và thờ tự ở Chùa, Tịnh xá, Tu viện, Thiền viện
Xem
Có nên nguyện trả hết nghiệp trước khi vãng sinh?
Xem
Đức Phật là bậc Vô thượng Y vương
Xem
Chuyến du Nam vãn cảnh bái Phật
Xem
Ý niệm tấn phong giáo phẩm trong Phật giáo
Xem
Người thân vừa qua đời, nên làm gì với quần áo, vật dụng ?
Xem
Bí ẩn tài sản thiêng liêng của người tu hành
Xem
Tại sao gọi là xuất gia?
Xem
An cư trong đại dịch
Xem
Xuất gia là con đường con đã chọn
Xem
Lời khai thị về ăn chay của Hòa thượng Thích Trí Tịnh
Xem
Phật dạy: Tu tập bảy pháp này khiến ma không phá hoại
Xem
Học hạnh không tranh chấp, tranh giành, tranh đấu, tranh cãi
Xem
Cầu nguyện hay Cầu xin?
Xem
Đạo Phật với con người trẻ
Xem
Cho con nhỏ quy gieo duyên trước chư Phật
Xem
Các cảnh giới tái sinh giúp người trợ niệm vãng sinh tìm hiểu
Xem
Nàng Ma Đăng Già trong nhạc, vũ, kịch
Xem
Những nguyên nhân giàu và nghèo trong cuộc sống
Xem
Hội nghị sinh hoạt Giáo hội 5 tháng đầu năm khu vực phía Nam
Xem
Hành trì và chánh nghiệp
Xem
Đối tượng lễ bái qua kinh Thiện Sanh
Xem
Hai nhà sư trẻ tam bộ nhất bái tới non thiêng Yên Tử giữa đại dịch
Xem
Cố gắng tìm về sự tĩnh lặng trong mâu thuẫn của cuộc đời
Xem
Cuộc đời này hạnh phúc hay ý nghĩa?
Xem
Những câu chuyện ám hại Đức Phật trong lịch sử
Xem
Tâm khởi qua hình tượng chư Phật, Bồ tát
Xem
Có duyên với Phật pháp là một phước duyên của đời người
Xem
Số phận đã an bài, có hay không sự may - rủi của số phận?
Xem
Diệt trừ các nghiệp ác do lời nói gây ra
Xem
Lời Phật dạy luôn luôn còn mãi
Xem
Tâm hoan hỷ trong kinh Pháp cú
Xem
Giải thoát là cốt lõi của Đạo Phật
Xem
Người tu thiền chết về đâu?
Xem
Trời kêu ai nấy dạ
Xem
Sự bất an và trầm tĩnh cùng Virus Corona
Xem
Tăng cường hệ miễn dịch nhờ năng lượng nuôi dưỡng từ Thiền định
Xem
Từ bỏ sự sát sanh
Xem
Hoa sen, biểu tượng của đạo Phật
Xem
Thiền đối với trẻ em
Xem
Bồ tát cũng là chúng sinh
Xem
Chàng trai Việt nặng tình trên đất Phật
Xem
Ý nghĩa của kinh hành niệm Phật
Xem
Thiên tai dịch họa trước quan niệm của tiền nhân
Xem
Ứng dụng NCOVI hỗ trợ phòng chống dịch bệnh do nCoV
Xem
Người muốn nhận lấy các nghiệp tội của chúng sinh
Xem
Chết không có nghĩa là chấm dứt
Xem
Cơ bản về điều kiện của hạnh phúc là tự do
Xem
Những điều cần biết để chủ động phòng chống dịch Corona
Xem
Quả báo từ việc phá thai của cô gái trẻ
Xem
Sự giống nhau giữa đạo Phật và môi trường
Xem
Lời dạy cuối cùng của Đức Phật trước khi Ngài nhập niết bàn
Xem
Trách mình trước khi trách người
Xem
Diêm Vương trong đạo Phật ?
Xem
Thần lực và Thần chú
Xem
Sau khi chết, Thần thức sẽ an trụ nơi nào?
Xem
99% trường hợp nghi nhiễm dịch COVID-19 ở Hà Nội đều âm tính
Xem
Ăn trong thiền
Xem
Kinh A Di Đà Việt nghĩa chuẩn nhất và Nghi thức tụng
Xem
Tín ngưỡng và triết lý Bồ Tát Quán Thế Âm
Xem
Steve Jobs qua đời ở tuổi 56, nhưng bộ não của ông mới chỉ 27 tuổi
Xem
Cậu bé vượt lên nghịch cảnh nhờ nghèo
Xem
Hạnh nhẫn nhục của bậc trượng phu chánh pháp
Xem
Bảy tôn tướng của Đức Dược Sư Như Lai
Xem
Ngăn ngừa virus corona không thể bằng việc uống vitamin C
Xem
Tự bảo vệ bản thân trong đợt dịch nCoV bằng cách nào?
Xem
Hãy sống bình dị như triết lý của Đức Đạt Lai Lạt Ma
Xem
Giúp mẹ vãng sinh Tây phương qua Trợ niệm
Xem
Giúp thanh lọc thân tâm qua việc hành thiền mỗi ngày
Xem
Lời Phật dạy về tình yêu nam nữ
Xem
Người tin vào Phật pháp, có thể cải biến số mệnh được không?
Xem
Có nên thờ Thần Tài hay không theo quan điểm Phật giáo, nhất là khi sắp đến ngày vía Thần tài?
Xem
Việc đốt vàng mã trong Phật giáo có nên hay không?
Xem
Những điều cần biết về trầm hương trong Phật giáo
Xem
Tự sát trên quan điểm của Phật giáo
Xem
Cầu nguyện hỏa hoạn AuStalia được dập tắt
Xem
Cha mẹ hãy cùng con học và hành việc thiện
Xem
Hoà thượng Thích Minh Thông cùng TT Thích Lâm Trang quang lâm chùa Viên Giác
Xem
Hướng dẫn: Trì tụng chú Đại Bi ngắn gọn
Xem
Những lưu ý về trang phục khi đi chùa
Xem
Tu hành đạo Phật trong cảnh khốn khó
Xem
Giáo lý đạo Phật bắt nguồn từ đâu
Xem
Có nên thờ tượng Phật đã sứt, mẻ?
Xem
Phật tử có bắt buộc phải tổ chức hôn lễ theo đạo Phật?
Xem
Câu chuyện đầu thai và sự giải thích dưới góc nhìn khoa học
Xem
Quá trình từ đức tin đến tu hành thành Phật diễn ra bao lâu?
Xem
10 hành động đem lại phước đức
Xem
Diệt trừ phiền giận bằng các phương pháp của Phật giáo
Xem
Ăn trứng gà trong bữa ăn chay Phật giáo?
Xem
Sự hòa hợp các tôn giáo với Phật giáo
Xem
20 câu thiền ngữ Phật dạy, giúp cuộc sống bình yên, hạnh phúc
Xem
Việc hành trì Phật pháp đối với chúng ta
Xem
Chánh niệm đối với mỗi người
Xem
Cuộc đời tu sĩ
Xem
Đức Phật tồn tại theo dòng lịch sử và thời đại
Xem
Công đức phóng sinh của Phật tử
Xem
Chắp tay trong Phật giáo có ý nghĩa như thế nào?
Xem
Đức Phật của thời đại của chúng ta
Xem
Cúng rước vía Đức Phật Di Lặc đầu năm và ý nghĩa
Xem
Chân chánh phát tâm Bồ Đề là như thế nào?
Xem
Bình an nhờ trong tâm niệm Phật
Xem
Ý nghĩa việc đến chùa tùng Kinh, niệm Phật của Phật tử
Xem
Nghiệp lực trong giáo lý của Phật Giáo
Xem
Triết lí của Phật giáo và thời đại
Xem
10 điều Phật dạy giúp cuộc sống trở nên nhẹ nhàng, tràn đầy yêu thương
Xem
Việc đốt hương trong Phật Giáo
Xem
Phương pháp tu trì Chú Đại Bi
Xem
Đời sống người xuất gia và lợi ích của ứng dụng giới luật
Xem
Tâm an vui, cảm nhận pháp lạc theo chánh pháp
Xem
Ba lạy trong Phật giáo và ý nghĩa
Xem
Về việc đi chùa đối với thanh niên thời nay
Xem
Hình tượng và ý nghĩa nụ cười của Bồ Tát Di Lặc
Xem
Hướng dẫn niệm Phật
Xem
Ba triết lý sâu sắc của Phật giáo về cuộc đời
Xem
Lời phật dạy về quan hệ thầy trò
Xem
Góc nhìn của Phật giáo về tái sinh
Xem
"Năm căn, năm lực" và ý nghĩa
Xem
Sám hối trong đạo Phật
Xem
Khi có nhiều chúng sanh cầu cứu cùng một lúc, Bồ Tát Quan Thế Âm thị hiện như thế nào?
Xem
Gia đình nghèo khó nên cúng cầu siêu như thế nào cho tròn đầy ý nghĩa?
Xem
Một câu chuyện về sức mạnh của lòng từ
Xem
Sự tích mười bảy Pháp tăng tàn
Xem
Những chỉ dẫn cốt tủy về cách tái sinh
Xem
Tinh thần Phật giáo là lý tưởng của nhân loại
Xem
Niệm Phật A Di Đà siêu độ hương linh
Xem
Hạnh phúc đích thực của con người đến từ lòng từ bi với sinh linh, vạn vật
Xem
Phải có khổ đau, mới hiểu được giá trị của hạnh phúc
Xem
Đức Phật là người bảo vệ hòa bình, chống chiến tranh
Xem
Phước đức của tự thân
Xem
Thiệt thòi là phước
Xem
Sống chung với mẹ chồng theo lời Phật dạy
Xem
Thần Chú Đại Bi: Viên ngọc của người cùng tử
Xem
Vì hạnh phúc muôn loài
Xem
Niệm Phật chuyển nghiệp được hưởng thọ phước báo
Xem
Tỷ phú Bill Gates: Người thực sự giàu là người sở hữu một trái tim giàu lòng nhân ái
Xem
Phương cách niệm Phật nào giúp dễ đạt nhất tâm bất loạn nhanh nhất?
Xem
Ăn chay chữa bệnh vảy nến
Xem
Khi lâm chung tưởng nhớ Phật, nhưng không thấy Phật, có được vãng sinh?
Xem
Làm thế nào để khuyến hóa gia đình thích sát sinh và mê tín dị đoan?
Xem
Khi bị oan uổng thị phi, có cần thanh minh không?
Xem
Liệu có sự sống sau khi chết hay không?
Xem
Đức Phật dạy có nên giết hại sinh vật để cúng giỗ người thân đã mất không?
Xem
Chuyện cảm ứng chuyển nghiệp kỳ diệu nhất do niệm Phật
Xem
Từ sự việc 39 nạn nhân tử nạn ở Anh, suy ngẫm lời Phật dạy về chọn nghề
Xem
Tại sao người giàu sang, kẻ nghèo hèn?
Xem
Phải biết quý tiếc phước báo của mình
Xem
Tư tưởng giáo dục Phật giáo
Xem
Đừng hưởng hết phước báu của mình
Xem
Vị trí và vai trò của chánh niệm
Xem
Sắc - Không trong Tâm kinh qua trí tuệ Bát Nhã
Xem
Sát sinh bị quả báo đoản mạng
Xem
Phước lạc thay sự xuất hiện của chư Phật
Xem
Đức Phật đã xử sự như thế nào khi được cung kính, cúng dường?
Xem
Đức Phật thị hiển như thế nào để cứu độ chúng sinh?
Xem
Tự độ, độ người và niệm Phật siêu độ
Xem
Lạy Phật như thế nào để được nhiều lợi ích?
Xem
Vì sao làm việc tốt không được phúc báo, lại có kẻ làm chuyện xấu mà không bị trừng phạt?
Xem
Lễ khởi công xây dựng “Mái ấm Công đoàn” cho đoàn viên khó khăn về nhà ở
Xem
Ni Trưởng Như Thanh - Ngôi sao sáng trên bầu trời Ni giới Việt Nam
Xem
Từ bi là gì?
Xem
Ứng dụng lý nhân duyên để thấu triệt lời Phật dạy
Xem
Tinh tấn tu hành có thay đổi được tướng số nhân quả không?
Xem
Xin đừng bóp méo lý tưởng xuất gia
Xem
Ươm mầm tâm linh
Xem
Những nàng tiên có thật giữa đời
Xem
Chúng ta sợ nghiệp dữ hơn hay chỉ sợ nghèo?
Xem
Nước mắt thiền sư
Xem
Lợi ích tụng Kinh niệm Phật
Xem
Quan niệm về giải thoát trong Phật giáo Nguyên thủy (II)
Xem
Làm thế nào để hóa giải nghiệp chướng, mê tín dị đoan trong gia đình?
Xem
Tam bộ nhất bái là gì? Tại sao phải đi 3 bước lại quỳ lạy sát đất 1 bước?
Xem
Đạo lực của một bậc Giác Ngộ
Xem
Giải mã ý nghĩa của tượng đức Quan Âm nghìn tay nghìn mắt
Xem
Nhất tâm, tinh tấn, vững bền trong giáo pháp của Đức Phật
Xem
Thưa mẹ, con đi tu
Xem
Bàn về việc can gián và bàn bạc trong giới luật Phật giáo
Xem
Không gian thiền vị đẹp như trong phim ở ngôi chùa hơn 1000 năm tuổi - Địa Tạng Phi Lai Tự
Xem
Ẩm thực chay trong Phật giáo Bắc Tông
Xem
Y Phật phát huy giới thân huệ mạng người xuất gia
Xem
Bộ não người như cái thùng chứa, hãy biết chọn sách để đọc
Xem
Đại Bồ Tát thành kính tri ân cúng dường những ngôi chùa lớn tại Hà Nội
Xem
Thần chú trong Phật giáo
Xem
Thượng Toạ Thích Thông Châu giảng đề tài: “Ý NGHĨA BÁO HIẾU MÙA VU-LAN”
Xem
Kênh truyền thông Đại Bồ Tát