Trang chủ > Ni giới và những lời Phật dạy
Bài viết
Bình luận

Ni giới và những lời Phật dạy

Tu sĩ hay cư sĩ đều được nương tựa Tam Bảo, cùng học và hành chung một nguồn Chánh pháp, và tất cả đều có điều kiện để đắc Thánh quả, Tâm và Tuệ giải thoát.

Vai trò và vị trí của nữ giới và nam giới trong xã hội thường được ấn định khác nhau trong các vùng văn hóa khác nhau. Vì các lý do chính trị, xã hội hay tôn giáo, từ xưa nam giới thường được đề cao, nữ giới thì giữ một vị trí khiêm tốn hơn, có nơi bị xem nhẹ, như ở các xã hội chủ trương "đa thê", "phụ thê", "nam nhất viết hữu, nữ thập viết vô", phụ nữ ra đường phải che mặt, chỉ đảm nhiệm công việc gia đình, hay phải chịu tổn phí cưới hỏi.... Thậm chí thiếu mất quyền làm chủ gia đình và quyền lợi về giáo dục.

Ngày nay, trong các xã hội dân chủ và ở nhiều nước ở Âu, Mỹ thì chủ trương "nam nữ bình quyền" hay "nam, nữ bình đẳng"; một số nơi khác thì hiện tượng kỳ thị giới tính trở nên bớt gay gắt. Tuy thế, ý nghĩa về "nam, nữ bình đẳng" vẫn tiếp tục được bàn cãi, tranh luận. Thỉnh thoảng đây đó vấn đề lại được đặt ra đối với giáo lý của đức Phật, khi mà xã hội chứng kiến sự kiện không có Ni chúng ở các nước Phật giáo Nguyên thủy thuộc hệ Theravada (Thượng tọa bộ), hay Ni chúng phải nhận thêm "Bát Kỉnh pháp" ở các nước Phật giáo Phát triển (hay Đại thừa). Phải chăng hiện tượng thiếu bình đẳng giữa nam giới và nữ giới vẫn còn vương sót lại ở văn hóa Phật giáo?

Trở về với xã hội Ấn, xưa và nay, chúng ta không lạ gì về hiện tượng phân chia giai cấp xã hội thành Bà La Môn, Sát Đế Lợi, Phệ Xá và Thủ Đà La và đặt thấp vị trí và vai trò của phụ nữ. Ngày nay, dù Ấn Độ là một nước dân chủ, nhưng hiện tượng "phân biệt" nam, nữ giới vẫn còn in đậm nét.

Qua kinh tạng Pàli, đức Phật phủ nhận sự phân chia giai cấp xã hội và kỳ thị giới tính. Ngài dạy hành động (hay việc làm) nói lên giá trị của mỗi người là Bà La Môn, Sát Đế Lợi, Phệ Xá hay Thủ Đà La, mà không phải là dòng dõi hay chủng tộc. Ngài chủ trương không có giai cấp trong "dòng máu cùng đỏ, nước mắt cùng mặn". Chủ trương này phổ biến đối với quần chúng phật tử và các giới nghiên cứu Phật học đến độ chúng ta không phải trực tiếp trưng dẫn những lời dạy của Ngài. Đương thời, các người thuộc bốn giai cấp của xã hội Ấn, và ngay cả những người có gốc là kỹ nữ, ngoại đạo hay kẻ cướp đường, nếu có quyết tâm giải thoát đều được chấp nhận vào Tăng chúng, Ni chúng hay nam, nữ cư sĩ.

Chuyện kể một lần tôn giả A Nan xin nước uống từ bình nước của một cô gái thuộc giai cấp cùng đinh đã khiến cô gái hoảng hốt chạy xa, tôn giả đã gọi cô gái lại và ôn tồn bảo: "Hãy cho tôi nước uống. Tôi xin nước, chứ không xin giai cấp". Cử chỉ và lời nói ôn tồn, trân trọng của tôn giả đã khiến cô gái xúc động và thức tỉnh. Sau đó, cô gái đến xin xuất gia với Tôn Ni Ma Ha Ba Xà Ba Đề, như vừa tìm thấy một đất sống tình người và trí tuệ, và đắc Thánh quả. Chỉ một câu nói của tôn giả A Nan hầu như đã có thể xóa tan trong chúng ta hết mọi nghi ngờ về bất cứ một hiện tượng kỳ thị giai cấp, giới tính nào có thể xảy ra trong Giáo hội của đức Phật.

Tu sĩ hay cư sĩ đều được nương tựa Tam Bảo, cùng học và hành chung một nguồn Chánh pháp, và tất cả đều có điều kiện để đắc Thánh quả, Tâm và Tuệ giải thoát.

Dù vậy, ý nghĩa bình đẳng giới tính trong giáo lý của đức Phật cũng cần được thêm một lần nữa minh thị, hiển thị qua chính những lời dạy của đức Phật được kiết tập trong kinh tạng Pàli.

Trước hết, từ "bình đẳng giới tính" hay "bình đẳng nam, nữ" cần được xác định ý nghĩa.

- Bàn tay có năm ngón không đều nhau ở vị trí khác nhau và có chức năng khác nhau. Ý nghĩa bình đẳng giữa các ngón tay là ý nghĩa giữ đúng vị trí và chức năng tự nhiên của mỗi ngón.

- Trái tim con người phải làm việc 24 giờ/ngày; nếu tim ngưng nghỉ thì sự sống chấm dứt. Óc của con người nếu làm việc 24 giờ/ngày như tim thì mọi người sẽ điên loạn mất, sự sống cũng không còn.

Thế nên, ý nghĩa bình đẳng ở đây không đòi hỏi tim, óc phải giống nhau, bằng nhau, mà mỗi thứ phải giữ đúng chức năng tự nhiên của nó trong một vận động hòa điệu.

- Cũng thế, nữ giới và nam giới trong xã hội con người, mỗi giới có một thiên chức thiêng liêng khác nhau của "người mẹ hiền" và "người cha thân". Ý nghĩa bình đẳng giữa nam giới và nữ giới ở đây là cần có đủ điều kiện để thể hiện tròn đầy thiên chức của mình, mà không phải là bằng nhau hay giống nhau ở vai trò hay thiên chức xã hội. Mỗi giới có các điều kiện xúc cảm, tình cảm, tâm, sinh, vật lý và chức năng khác nhau nên giữ các vai trò gia đình, đoàn thể và xã hội khác nhau.

Đây là sự sống. Hệt như cái nút chai khác với cái chai, nhưng cần thích ứng nhau để có công dụng - nếu cả hai là nút chai, hay là chai thì thật là ngỡ ngàng!

Từ nhận định trên, chúng ta đi vào tìm hiểu những lời dạy của đức Phật về nữ giới.

 Những điểm tương đồng giữa nữ cư sĩ và nam cư sĩ

1. Về các bổn phận vợ đối với chồng, và chồng đối với vợ: Kinh Thiện Sinh (Trường bộ, 31) giới thiệu các bổn phận vợ đối với chồng và chồng đối với vợ rất là công bằng: người chồng phải là người chồng, người yêu và là người bạn của vợ; người vợ phải là người vợ, người yêu và là người bạn của chồng; cả hai đều phải thương yêu kính trọng và chung thủy với nhau. Nếu người vợ phải quán xuyến việc nhà, xí nghiệp, đối xử tốt đối với những người thân, bạn bè của chồng, thì người chồng phải chăm sóc các nhu cầu của vợ, thường sắm quà cho vợ. Ở đây hiện rõ: có một sự bình đẳng giữa nam và nữ giới trong giáo lý Phật giáo.

2. Các loại giới tu tập: Về ngũ Giới, Bát quan trai giới, Thập thiện giới, nam và nữ cư sĩ cùng đồng đẳng tu tập, không có khác biệt.

3. Về nghe pháp: Nam và nữ cư sĩ cùng chung dự các thời pháp mà đức Thế Tôn hay đệ tử của đức Thế Tôn thuyết giảng.

4. Về bố thí, cúng dường và thực hành thiền định: Nam và nữ cư sĩ đều đồng đẳng tu tập và chứng đắc tùy theo quyết tâm của mỗi người.

5. Về ngũ nghịch tội: Tội giết cha hay mẹ đều bị đọa địa ngục dù là nam hay nữ vi phạm.

6. Về trí tuệ: Nếu tu đúng pháp, nam hay nữ cư sĩ đều có thể chứng đắc bốn Thánh quả, Tâm và Tuệ giải thoát.

Như thế, trong giáo lý của đức Phật, không có sự khác biệt nào dành cho nam hay nữ cư sĩ.

"Bát Kỉnh pháp" được thành lập để mở ra hướng xuất thế cho nữ giới và nhằm bảo vệ giá trị phạm hạnh của đoàn thể Tăng già vì sự an trụ lâu dài của Chánh pháp, mà không thể có một ý nghĩa phân biệt, kỳ thị nào ở đây.

Những điểm tương đồng giữa tu sĩ và cư sĩ:

1. Tu sĩ hay cư sĩ đều được nương tựa Tam Bảo, cùng học và hành chung một nguồn Chánh pháp, và tất cả đều có điều kiện để đắc Thánh quả, Tâm và Tuệ giải thoát.

2. Tu sĩ và cư sĩ đều có thể chung dự các thời pháp do đức Thế Tôn hay đại đệ tử của Thế Tôn thuyết giảng.

3. Tu sĩ hay cư sĩ đều có thể vào chín cảnh giới thiền định.

4. Tất cả đều phải "nương tựa mình và nương tựa pháp", nghĩa là đều phải giữ giới và thực hành Tứ niệm xứ.

Pháp do đức Thế Tôn thuyết giảng không hạn chế vì giai cấp, chủng tộc, giới tính, tại gia hay xuất gia. Tùy theo căn cơ và quyết tâm giải thoát của mỗi người mà lãnh nhận và thực hành.

 Những điểm tương đồng giữa tăng và ni:

1. Cả hai đều là hàng xuất gia, là thành viên của Giáo hội Tăng già Phật giáo, không phân biệt tuổi tác, giai cấp, chủng tộc.

2. Cả hai đều được học hỏi và thực hành chung kinh tạng.

3. Cả hai đều thực hành 37 Phẩm trợ đạo, và đều có khả năng thành tựu đạo như nhau.

4. Cả hai đều có điều kiện để đắc Tam minh hay Lục thông, không có sự khác biệt nào.

5. Cả hai, nếu có đủ điều kiện, đều có thể thu nhận đệ tử xuất gia cùng giới tính.

6. Cả hai đều phải bố tát, an cư, tự tứ.

7. Cả hai đều có thể hành độc cư thiền định, hay thuyết pháp độ sinh nếu có khả năng.

Về các điểm học và hành cơ bản về Giới, Định, Tuệ này thì không có sự phân biệt nào giữa tăng và ni. Tuy nhiên, về mặt xã hội và tổ chức thì có một số điểm khác biệt nhỏ giữa tăng và ni, do điều kiện căn cơ khác biệt về thiên hướng xã hội và giới tính.

"Bát Kỉnh pháp" là tám điều mà Ni giới phải tôn trọng giữ gìn như là giữ gìn vòng hoa trang điểm cho lịch nhã hơn cho người phụ nữ Ấn ngày xưa.

Những điểm khác biệt giữa tăng và ni, giữa nam giới và nữ giới:

 

1. Tăng Chi Bộ Kinh, chương Một Pháp chép rằng: 

Sự kiện này không xảy ra: một phụ nữ có thể là một A La Hán Chánh đẳng giác (Phật).

Sự kiện này không xảy ra: một phụ nữ có thể là một Chuyển Luân Thánh Vương, một Đế Thích (Sakka), một Phạm Thiên Vương hay một Ma Vương.

Sự kiện này có xảy ra: một đàn ông (nam thân) có thể là một A La Hán Chánh đẳng giác, một Chuyển Luân Thánh Vương, một Đế Thích, một Phạm Thiên Vương hay một Ma Vương (đại độc ác).

Các pháp là như thế ("Pháp nhỉ như thị") không thể hỏi tại sao, ví như không thể hỏi tại sao mặt trời mọc ở phương Đông.

2. Sự khác biệt về giới bổn Ba La Đề Mộc Xoa: (Patimokkha):

Giới bổn của tăng, ni đều cùng có 7 tụ với số lượng giới điều có sai biệt, nên giới bổn của tăng có 250 giới, trong khi đó giới bổn của ni có 350 giới.

Giới vốn được thiết lập nhằm đem lại lợi ích giải thoát cho người giữ giới, cho Tăng già và cho quần chúng để Chánh pháp trú thế lâu dài. Vì thế, giới điều càng đi vào chi tiết, càng nhiều thì thuận lợi thêm cho việc giải thoát cho Ni giới, mà không hề có ý nghĩa ràng buộc thêm cho Ni giới.

3. Sự kiện Ni giới nhận lãnh thêm "Bát Kỉnh pháp":

"Bát Kỉnh pháp" là tám điều mà Ni giới phải tôn trọng giữ gìn như là giữ gìn vòng hoa trang điểm cho lịch nhã hơn cho người phụ nữ Ấn ngày xưa. Đó là:

a. Dù cho thọ đại giới 100 năm, một Tỷ kheo ni đối với vị Tỷ kheo thọ giới trong một ngày cũng phải đảnh lễ, đứng dậy, chắp tay, xử sự đúng pháp.

b. Tỷ kheo Ni không thể an cư tại chỗ không có Tỷ kheo.

c. Nửa tháng một lần, Tỷ kheo ni cần phải thỉnh chúng Tỷ kheo đến thuyết giới.

d. Sau khi an cư mùa mưa xong, Tỷ kheo ni cần phải làm lễ Tự tứ trước hai Tăng chúng.

e. Tỷ kheo ni phạm trọng tội phải làm pháp ý hỷ đến nửa tháng.

f. Sau thời gian hành các pháp Sa di ni 2 năm, phải xin thọ Cụ túc giới trước 2 Tăng chúng.

g. Không vì bất cứ lý do gì, Tỷ kheo ni có thể chỉ trích Tỷ kheo.

h. Chỉ có sự giáo giới phê bình giữa các Tỷ kheo về các Tỷ kheo ni, mà không có sự giáo giới phê bình giữa các Tỷ kheo ni về các Tỷ kheo.

Các điều ở trên chỉ nhằm xác định sự bày tỏ kính trọng chư tăng của chư ni (giới xuất gia), để tạo một khoảng cách thân mật về tình cảm dễ đưa đến các ngộ nhận, nghi ngờ bất lợi cho giá trị phạm hạnh của Tăng già, tổn hại đến sứ mệnh của Tăng bảo (điều a, g và h), và nhằm chỉ có một giáo hội Tăng già thống nhất, mà không phải có một Giáo hội Ni độc lập với Giáo hội Tăng. "Bát Kỉnh pháp" như thế được thành lập để mở ra hướng xuất thế cho nữ giới và nhằm bảo vệ giá trị phạm hạnh của đoàn thể Tăng già vì sự an trụ lâu dài của Chánh pháp, mà không thể có một ý nghĩa phân biệt, kỳ thị nào ở đây.

Đức Thế Tôn đã dạy cho tôn giả A Nan rõ lý do tại sao Thế Tôn ràng buộc "Bát Kỉnh pháp" cho Ni giới rằng:

"Này A Nan, ví như một người vì nghĩ đến tương lai, xây dựng bờ đê cho một hồ nước lớn để nước không thể chảy qua; cũng vậy này A Nan, vì nghĩ đến tương lai, Ta ban hành 'Bát Kỉnh pháp' này cho các Tỷ kheo Ni cho đến trọn đời không được vượt qua" (Tăng Chi VIII.51, Kinh Mahàpajàpati Gotamì).

Hồ nước ấy là hồ nước phạm hạnh của Tăng già.

Đức Thế Tôn dạy tiếp:

"Nếu Tăng già không có mặt Ni chúng thì phạm hạnh sẽ tồn tại lâu dài, diệu pháp sẽ tồn tại đến 1.000 năm. Vì có mặt Ni chúng, nên diệu pháp đã bị rút ngắn 500 năm)" (Tăng Chi VIII.51, Kinh Mahàpajàpati Gotamì).

Là một Ni sư có học pháp, hiểu pháp và hành pháp - và cả Tăng hay Phật tử cũng thế - thì ý thức rằng mình phải biết ơn cả cuộc đời này, pháp giới này, thiên nhiên cây cỏ này, phải tỏ sự kính trọng đối với tất cả, huống nữa là đối Tăng già, đối các Tăng sĩ trẻ.

Về ý nghĩa diệu pháp bị rút ngắn đã được Thế Tôn chỉ dạy rằng:

"Ví như một gia đình có nhiều phụ nữ và ít đàn ông thì dễ bị đạo tặc đánh trộm, cũng thế về trường hợp Tăng già có mặt Ni chúng".

Tài sản của Tăng già bị đánh trộm là tài sản phạm hạnh, là tài sản xây dựng tín tâm cho quần chúng đối với Chánh pháp. Đây là ý nghĩa mà mỗi chúng ta có thể tự hình dung ra, rất dễ nhận diện. Những nhà nghiên cứu Phật học và quần chúng Phật tử không có lý do gì để nghi ngờ về "Bát Kỉnh pháp" rằng đấy là sự áp đặt lên Ni giới.

Hãy nghĩ rằng đức Thế Tôn là đấng Đại giác đã tận trừ hết thảy các lậu hoặc, thì không thể có sự kiện thiên vị Tăng giới hay kỳ thị Ni giới xảy ra. Tôn giả A Nan và Tôn giả Ưu Ba Li (Upàli) là các đại đệ tử của Thế Tôn đã tận trừ sạch lậu hoặc trước thời kiết tập, không có sự kiện thêm, bớt hay tuyên thuyết sai Phật ý có thể xảy ra.

Nếu nêu lên nghi vấn khác rằng có một sự thêm thắt về sau từ thời kiết tập kinh điển lần thứ ba dưới triều đại đế A-Dục (Asoka), thì điều này cũng không thể xảy ra, bởi vì kỳ kiết tập này cũng được chủ trì bởi các vị đại A La Hán, những vị hiểu rõ tận tường Pháp và Luật do đức Phật thuyết. Vấn đề còn lại là do nghi ngờ của chúng ta khởi lên từ vọng niệm, từ các tư duy sai lầm bị chế ngự bởi các ngã ái, ngã mạn, ngã chấp.

Chúng ta hãy bình tĩnh hồi tưởng lại các sự kiện rắc rối đã xảy đến với giáo hội Tăng già khi có mặt Ni chúng thì sẽ rõ hơn: 

- Như trường hợp các vị Ni trẻ bị các thanh niên cản đường hành đạo, đòi xâm phạm tiết hạnh hay đòi thành gia thất. Sự kiện này không phải chỉ xảy ra một lần.

- Như trường hợp các phụ nữ xin xuất gia sau khi vừa lập gia đình do động cơ cần cầu giải thoát; sau ngày xuất gia thì thai nhi lớn dần.... Đây không phải là trường hợp vi phạm giới luật. Sự kiện này không phải chỉ xảy ra có một lần. Cứ mỗi lần như vậy thì Tôn giả Ưu Ba Li và Tôn Ni Ma Ha Ba Xà Ba Đề cùng tín nữ Lộc mẫu (Visakhà) phải vất vả biết bao để giải quyết. Dù là tâm trong sáng, nhưng liệu Ni chúng và Tăng già có tránh khỏi tai tiếng không? Phải chăng đây là ý nghĩa tài sản phạm hạnh đã bị các đạo tặc đánh cắp?

Tiếp tục tư duy thêm một bước nữa. Trong đời sống xã hội thì nữ giới gặp nhiều khổ đau ngang trái hơn là nam giới, như các trường hợp thiếu nhan sắc, góa bụa giữa tuổi xuân xanh, không có điều kiện sinh con trai.... Thường thì đối với những phụ nữ này, cảnh chùa Ni là đất sống dựng lại niềm tin cho cuộc sống, là nguồn an ủi duy nhất, là cửa từ bi rộng mở, mở đường đi vào tỉnh thức. Nhưng liệu hình ảnh này có tạo thêm sức mạnh để dựng xây niềm tin giải thoát tích cực cho cuộc đời không? Có dễ thuyết cuộc đời đây là nơi nương tựa giải thoát cho đời không? Còn có nhiều, nhiều lắm các lý do tương tự đối với Ni giới để chúng ta đi đến một sự ổn định về nhận thức rằng: để chấp nhận sự hiện diện của Ni giới trong hàng xuất gia, phạm hạnh, thì điều kiện tối thiểu cần có là duy trì, tôn kính "Bát Kỉnh pháp". Thế Tôn không thiết lập "Bát Kỉnh pháp" cho đoàn thể nữ cư sĩ đối với nam cư sĩ.

Có lẽ vì ý thức về các lý do phiền phức vừa bàn mà Giáo hội Tăng già các nước Phật giáo thuộc Thượng tọa bộ hệ như Tích Lan, Miến Điện, Thái Lan, Lào và Campuchia cho đến nay vẫn ngần gại trong việc thành lập Ni chúng như ở các nước Phật giáo Phát triển (Bắc tông). Sự ngần ngại ấy có mặt cũng chỉ vì muốn cho phạm hạnh hay diệu pháp được tồn tại lâu dài ở đời. Các nước Phật giáo Bắc truyền như Trung Hoa, Việt Nam, Triều Tiên, Nhật Bản.... vì phải tiếp nối truyền thống phát triển khoáng đạt của Phật giáo phát triển mà thành lập Ni chúng, tiếp nối truyền thống Tăng già dưới thời đức Phật với sự duy trì "Bát Kỉnh pháp". Thế có nghĩa là "Bát Kỉnh pháp" là giới hạn sau cùng của sự phát triển Ni chúng, không thể vượt qua.

Nghi ngờ "Bát Kỉnh pháp" chỉ là sự rối loạn của tư duy sẽ dẫn đến sự rối loạn của thái độ sống. Điều này hẳn sẽ không đem lại an lạc, hạnh phúc cho số đông.

Đến đây, nếu còn chút nghi ngờ nào đó về "Bát Kỉnh pháp" như là một sự áp đặt, thì chúng ta hãy tiếp tục nghĩ rằng:

- Là một Tăng sĩ Phật giáo có học pháp, hiểu pháp và hành pháp, thì ý thức rằng công phu của tự thân là chế ngự ngã si, ngã mạn, ngã ái nên tuyệt nhiên không hưởng một quyền lợi giải thoát nào qua "Bát Kỉnh pháp", và sẽ không bao giờ có một tự hãnh nào về sự kính trọng mà Ni giới dành cho vị Tăng sĩ ấy cả.

- Là một Ni sư có học pháp, hiểu pháp và hành pháp - và cả Tăng hay Phật tử cũng thế - thì ý thức rằng mình phải biết ơn cả cuộc đời này, pháp giới này, thiên nhiên cây cỏ này, phải tỏ sự kính trọng đối với tất cả, huống nữa là đối Tăng già, đối các Tăng sĩ trẻ. Đây là điều tốt đẹp cần làm như là một phụ nữ cần trang điểm cho vẻ đẹp tự thân vậy: một vẻ đẹp của văn hóa phạm hạnh và của cả văn hóa Phương Đông.

Nghi ngờ "Bát Kỉnh pháp" chỉ là sự rối loạn của tư duy sẽ dẫn đến sự rối loạn của thái độ sống. Điều này hẳn sẽ không đem lại an lạc, hạnh phúc cho số đông.

Tỳ kheo Thích Chơn Thiện

Các bài viết liên quan
Xem
Những con số bảy trong kinh tạng Pali
Xem
Nghiệp và số mệnh đồng hay khác?
Xem
Thưởng lãm các bức thư pháp "thiền định" của Thiền sư Thích Nhất Hạnh
Xem
Con đường và hương vị giải thoát
Xem
Pháp tu niệm Phật trong thời Thế Tôn tại thế
Xem
Tổ đình Từ Hiếu: Miền an lạc chốn thiền môn xứ Huế
Xem
Rừng hay ngôn ngữ của sự sống
Xem
Bệnh nhân 91 xuất viện, trở về Anh
Xem
Thấp thoáng lời kinh Quán Thế Âm
Xem
Căn tu là gì?
Xem
Phát tâm tu, khi nghiệp quả đến có thay đổi từ nặng sang nhẹ không?
Xem
Một quyết định nhân văn của Siem Reap - Campuchia
Xem
Những lời dạy cuối cùng của Đức Phật
Xem
Giới luật – tìm lại niềm tin nơi Phật tử
Xem
Nguồn gốc và ý nghĩa của Chuông, Mõ, Khánh trong Phật giáo
Xem
Theo Phật xuất gia truyền thừa Phật pháp
Xem
Chính ngữ: Giải pháp phòng, chống bạo hành bằng lời nói
Xem
Món quà cuộc sống
Xem
Thông điệp của Đức Dalai Lama nhân khánh tuế thứ 85
Xem
Xuất gia để làm gì?
Xem
Vì sao ta phải sống trong đau khổ lầm mê?
Xem
Danh xưng Chư tôn đức Tăng trong Tòng lâm Phật giáo Bắc truyền
Xem
Phật dạy về nghiệp báo sai biệt của mỗi người
Xem
Phật tử vì sao mà phải tín ngưỡng Tam Bảo?
Xem
Thiền sư Thích Nhất Hạnh: Ăn trong chánh niệm, Sống trong tỉnh thức
Xem
Stephen Cameron trở về từ cận tử nghiệp
Xem
Tin Phật là con người đã giác ngộ hoàn toàn
Xem
Hễ xem kinh sách thì buồn ngủ phải làm sao?
Xem
Ý nghĩa thâm sâu từ tư thế ngủ của Đức Phật
Xem
Bệnh dưới lăng kính Phật giáo
Xem
Địa ngục trần gian và nỗi khổ con người
Xem
Bức thông điệp từ con người của Đức Phật
Xem
Ý nghĩa và lợi ích khi trì chú Văn Thù Sư Lợi Bồ tát
Xem
Tu như cứu lửa cháy dầu
Xem
Phật dạy tham ăn uống làm con người khổ
Xem
Cái chết có trong sự sống
Xem
Ý nghĩa của câu "Ta bà ha" ở cuối các các câu thần chú
Xem
Nghi thức lạy sám hối 35 vị Phật
Xem
Nhân quả và con đường chuyển hóa
Xem
Đức Phật dạy thế nào là người đàn ông lý tưởng?
Xem
Quán Thế Âm Bồ Tát là huynh đệ của chúng ta
Xem
Yên lặng ở nội tâm
Xem
Nghiệp dẫn chúng sinh đi trong luân hồi sống chết
Xem
Những câu danh ngôn của Thiền sư Thích Nhất Hạnh
Xem
Liên Hợp Quốc tổ chức kỷ niệm Ngày Quốc tế Phật đản
Xem
An cư kiết hạ là gì? Ý nghĩa của An cư kiết hạ
Xem
Sống an lạc qua giáo lý “tứ đại giai không”
Xem
Cách cúng thí thực để có được nhiều lợi ích và phước báu
Xem
Hành xứ của người xuất gia
Xem
Về thăm chùa Bộc, nơi thờ "Hoàng đế" Quang Trung
Xem
Nhất niên Phật hiện tiền, nhị niên Phật thăng thiên, tam niên bất kiến Phật
Xem
Đức Phật cảm hóa Angulimāla: Nhiều bài học quý
Xem
Nghĩ về hai chữ “công” và “đức” của hòm “công đức”
Xem
Hình thức và ý nghĩa lễ bái trong đạo Phật
Xem
5 phận sự của Đức Phật
Xem
Muốn học Phật trước tiên phải biết hiếu dưỡng cha mẹ
Xem
Sự khác nhau trong các danh xưng và thờ tự ở Chùa, Tịnh xá, Tu viện, Thiền viện
Xem
Có nên nguyện trả hết nghiệp trước khi vãng sinh?
Xem
Đức Phật là bậc Vô thượng Y vương
Xem
Chuyến du Nam vãn cảnh bái Phật
Xem
Ý niệm tấn phong giáo phẩm trong Phật giáo
Xem
Người thân vừa qua đời, nên làm gì với quần áo, vật dụng ?
Xem
Bí ẩn tài sản thiêng liêng của người tu hành
Xem
Tại sao gọi là xuất gia?
Xem
An cư trong đại dịch
Xem
Xuất gia là con đường con đã chọn
Xem
Lời khai thị về ăn chay của Hòa thượng Thích Trí Tịnh
Xem
Phật dạy: Tu tập bảy pháp này khiến ma không phá hoại
Xem
Học hạnh không tranh chấp, tranh giành, tranh đấu, tranh cãi
Xem
Cầu nguyện hay Cầu xin?
Xem
Đạo Phật với con người trẻ
Xem
Cho con nhỏ quy gieo duyên trước chư Phật
Xem
Các cảnh giới tái sinh giúp người trợ niệm vãng sinh tìm hiểu
Xem
Nàng Ma Đăng Già trong nhạc, vũ, kịch
Xem
Những nguyên nhân giàu và nghèo trong cuộc sống
Xem
Hội nghị sinh hoạt Giáo hội 5 tháng đầu năm khu vực phía Nam
Xem
Hành trì và chánh nghiệp
Xem
Đối tượng lễ bái qua kinh Thiện Sanh
Xem
Sự giác ngộ và giải thoát của Người Phật tử
Xem
Hai nhà sư trẻ tam bộ nhất bái tới non thiêng Yên Tử giữa đại dịch
Xem
Cố gắng tìm về sự tĩnh lặng trong mâu thuẫn của cuộc đời
Xem
Cuộc đời này hạnh phúc hay ý nghĩa?
Xem
Những câu chuyện ám hại Đức Phật trong lịch sử
Xem
Tâm khởi qua hình tượng chư Phật, Bồ tát
Xem
Có duyên với Phật pháp là một phước duyên của đời người
Xem
Số phận đã an bài, có hay không sự may - rủi của số phận?
Xem
Diệt trừ các nghiệp ác do lời nói gây ra
Xem
Lời Phật dạy luôn luôn còn mãi
Xem
Tâm hoan hỷ trong kinh Pháp cú
Xem
Giải thoát là cốt lõi của Đạo Phật
Xem
Người tu thiền chết về đâu?
Xem
Trời kêu ai nấy dạ
Xem
Sự bất an và trầm tĩnh cùng Virus Corona
Xem
Tăng cường hệ miễn dịch nhờ năng lượng nuôi dưỡng từ Thiền định
Xem
Từ bỏ sự sát sanh
Xem
Hoa sen, biểu tượng của đạo Phật
Xem
Thiền đối với trẻ em
Xem
Bồ tát cũng là chúng sinh
Xem
Chàng trai Việt nặng tình trên đất Phật
Xem
Ý nghĩa của kinh hành niệm Phật
Xem
Thiên tai dịch họa trước quan niệm của tiền nhân
Xem
Ứng dụng NCOVI hỗ trợ phòng chống dịch bệnh do nCoV
Xem
Người muốn nhận lấy các nghiệp tội của chúng sinh
Xem
Chết không có nghĩa là chấm dứt
Xem
Cơ bản về điều kiện của hạnh phúc là tự do
Xem
Những điều cần biết để chủ động phòng chống dịch Corona
Xem
Quả báo từ việc phá thai của cô gái trẻ
Xem
Sự giống nhau giữa đạo Phật và môi trường
Xem
Lời dạy cuối cùng của Đức Phật trước khi Ngài nhập niết bàn
Xem
Trách mình trước khi trách người
Xem
Diêm Vương trong đạo Phật ?
Xem
Thần lực và Thần chú
Xem
Sau khi chết, Thần thức sẽ an trụ nơi nào?
Xem
99% trường hợp nghi nhiễm dịch COVID-19 ở Hà Nội đều âm tính
Xem
Ăn trong thiền
Xem
Kinh A Di Đà Việt nghĩa chuẩn nhất và Nghi thức tụng
Xem
Tín ngưỡng và triết lý Bồ Tát Quán Thế Âm
Xem
Steve Jobs qua đời ở tuổi 56, nhưng bộ não của ông mới chỉ 27 tuổi
Xem
Cậu bé vượt lên nghịch cảnh nhờ nghèo
Xem
Hạnh nhẫn nhục của bậc trượng phu chánh pháp
Xem
Bảy tôn tướng của Đức Dược Sư Như Lai
Xem
Ngăn ngừa virus corona không thể bằng việc uống vitamin C
Xem
Tự bảo vệ bản thân trong đợt dịch nCoV bằng cách nào?
Xem
Hãy sống bình dị như triết lý của Đức Đạt Lai Lạt Ma
Xem
Giúp mẹ vãng sinh Tây phương qua Trợ niệm
Xem
Giúp thanh lọc thân tâm qua việc hành thiền mỗi ngày
Xem
Lời Phật dạy về tình yêu nam nữ
Xem
Người tin vào Phật pháp, có thể cải biến số mệnh được không?
Xem
Có nên thờ Thần Tài hay không theo quan điểm Phật giáo, nhất là khi sắp đến ngày vía Thần tài?
Xem
Việc đốt vàng mã trong Phật giáo có nên hay không?
Xem
Những điều cần biết về trầm hương trong Phật giáo
Xem
Tự sát trên quan điểm của Phật giáo
Xem
Cầu nguyện hỏa hoạn AuStalia được dập tắt
Xem
Cha mẹ hãy cùng con học và hành việc thiện
Xem
Hoà thượng Thích Minh Thông cùng TT Thích Lâm Trang quang lâm chùa Viên Giác
Xem
Hướng dẫn: Trì tụng chú Đại Bi ngắn gọn
Xem
Những lưu ý về trang phục khi đi chùa
Xem
Tu hành đạo Phật trong cảnh khốn khó
Xem
Giáo lý đạo Phật bắt nguồn từ đâu
Xem
Có nên thờ tượng Phật đã sứt, mẻ?
Xem
Phật tử có bắt buộc phải tổ chức hôn lễ theo đạo Phật?
Xem
Câu chuyện đầu thai và sự giải thích dưới góc nhìn khoa học
Xem
Quá trình từ đức tin đến tu hành thành Phật diễn ra bao lâu?
Xem
10 hành động đem lại phước đức
Xem
Diệt trừ phiền giận bằng các phương pháp của Phật giáo
Xem
Ăn trứng gà trong bữa ăn chay Phật giáo?
Xem
Sự hòa hợp các tôn giáo với Phật giáo
Xem
20 câu thiền ngữ Phật dạy, giúp cuộc sống bình yên, hạnh phúc
Xem
Việc hành trì Phật pháp đối với chúng ta
Xem
Chánh niệm đối với mỗi người
Xem
Cuộc đời tu sĩ
Xem
Đức Phật tồn tại theo dòng lịch sử và thời đại
Xem
Công đức phóng sinh của Phật tử
Xem
Chắp tay trong Phật giáo có ý nghĩa như thế nào?
Xem
Đức Phật của thời đại của chúng ta
Xem
Cúng rước vía Đức Phật Di Lặc đầu năm và ý nghĩa
Xem
Chân chánh phát tâm Bồ Đề là như thế nào?
Xem
Bình an nhờ trong tâm niệm Phật
Xem
Ý nghĩa việc đến chùa tùng Kinh, niệm Phật của Phật tử
Xem
Nghiệp lực trong giáo lý của Phật Giáo
Xem
Triết lí của Phật giáo và thời đại
Xem
10 điều Phật dạy giúp cuộc sống trở nên nhẹ nhàng, tràn đầy yêu thương
Xem
Việc đốt hương trong Phật Giáo
Xem
Phương pháp tu trì Chú Đại Bi
Xem
Đời sống người xuất gia và lợi ích của ứng dụng giới luật
Xem
Tâm an vui, cảm nhận pháp lạc theo chánh pháp
Xem
Ba lạy trong Phật giáo và ý nghĩa
Xem
Về việc đi chùa đối với thanh niên thời nay
Xem
Hình tượng và ý nghĩa nụ cười của Bồ Tát Di Lặc
Xem
Hướng dẫn niệm Phật
Xem
Ba triết lý sâu sắc của Phật giáo về cuộc đời
Xem
Lời phật dạy về quan hệ thầy trò
Xem
Góc nhìn của Phật giáo về tái sinh
Xem
"Năm căn, năm lực" và ý nghĩa
Xem
Sám hối trong đạo Phật
Xem
Khi có nhiều chúng sanh cầu cứu cùng một lúc, Bồ Tát Quan Thế Âm thị hiện như thế nào?
Xem
Gia đình nghèo khó nên cúng cầu siêu như thế nào cho tròn đầy ý nghĩa?
Xem
Một câu chuyện về sức mạnh của lòng từ
Xem
Sự tích mười bảy Pháp tăng tàn
Xem
Những chỉ dẫn cốt tủy về cách tái sinh
Xem
Tinh thần Phật giáo là lý tưởng của nhân loại
Xem
Niệm Phật A Di Đà siêu độ hương linh
Xem
Hạnh phúc đích thực của con người đến từ lòng từ bi với sinh linh, vạn vật
Xem
Phải có khổ đau, mới hiểu được giá trị của hạnh phúc
Xem
Đức Phật là người bảo vệ hòa bình, chống chiến tranh
Xem
Phước đức của tự thân
Xem
Thiệt thòi là phước
Xem
Sống chung với mẹ chồng theo lời Phật dạy
Xem
Thần Chú Đại Bi: Viên ngọc của người cùng tử
Xem
Vì hạnh phúc muôn loài
Xem
Niệm Phật chuyển nghiệp được hưởng thọ phước báo
Xem
Tỷ phú Bill Gates: Người thực sự giàu là người sở hữu một trái tim giàu lòng nhân ái
Xem
Phương cách niệm Phật nào giúp dễ đạt nhất tâm bất loạn nhanh nhất?
Xem
Ăn chay chữa bệnh vảy nến
Xem
Khi lâm chung tưởng nhớ Phật, nhưng không thấy Phật, có được vãng sinh?
Xem
Làm thế nào để khuyến hóa gia đình thích sát sinh và mê tín dị đoan?
Xem
Khi bị oan uổng thị phi, có cần thanh minh không?
Xem
Liệu có sự sống sau khi chết hay không?
Xem
Đức Phật dạy có nên giết hại sinh vật để cúng giỗ người thân đã mất không?
Xem
Chuyện cảm ứng chuyển nghiệp kỳ diệu nhất do niệm Phật
Xem
Từ sự việc 39 nạn nhân tử nạn ở Anh, suy ngẫm lời Phật dạy về chọn nghề
Xem
Tại sao người giàu sang, kẻ nghèo hèn?
Xem
Phải biết quý tiếc phước báo của mình
Xem
Tư tưởng giáo dục Phật giáo
Xem
Đừng hưởng hết phước báu của mình
Xem
Vị trí và vai trò của chánh niệm
Xem
Sắc - Không trong Tâm kinh qua trí tuệ Bát Nhã
Xem
Sát sinh bị quả báo đoản mạng
Xem
Phước lạc thay sự xuất hiện của chư Phật
Xem
Đức Phật đã xử sự như thế nào khi được cung kính, cúng dường?
Xem
Đức Phật thị hiển như thế nào để cứu độ chúng sinh?
Xem
Tự độ, độ người và niệm Phật siêu độ
Xem
Lạy Phật như thế nào để được nhiều lợi ích?
Xem
Vì sao làm việc tốt không được phúc báo, lại có kẻ làm chuyện xấu mà không bị trừng phạt?
Xem
Lễ khởi công xây dựng “Mái ấm Công đoàn” cho đoàn viên khó khăn về nhà ở
Xem
Ni Trưởng Như Thanh - Ngôi sao sáng trên bầu trời Ni giới Việt Nam
Xem
Từ bi là gì?
Xem
Ứng dụng lý nhân duyên để thấu triệt lời Phật dạy
Xem
Tinh tấn tu hành có thay đổi được tướng số nhân quả không?
Xem
Xin đừng bóp méo lý tưởng xuất gia
Xem
Ươm mầm tâm linh
Xem
Những nàng tiên có thật giữa đời
Xem
Chúng ta sợ nghiệp dữ hơn hay chỉ sợ nghèo?
Xem
Nước mắt thiền sư
Xem
Lợi ích tụng Kinh niệm Phật
Xem
Quan niệm về giải thoát trong Phật giáo Nguyên thủy (II)
Xem
Làm thế nào để hóa giải nghiệp chướng, mê tín dị đoan trong gia đình?
Xem
Tam bộ nhất bái là gì? Tại sao phải đi 3 bước lại quỳ lạy sát đất 1 bước?
Xem
Đạo lực của một bậc Giác Ngộ
Xem
Giải mã ý nghĩa của tượng đức Quan Âm nghìn tay nghìn mắt
Xem
Nhất tâm, tinh tấn, vững bền trong giáo pháp của Đức Phật
Xem
Thưa mẹ, con đi tu
Xem
Bàn về việc can gián và bàn bạc trong giới luật Phật giáo
Xem
Không gian thiền vị đẹp như trong phim ở ngôi chùa hơn 1000 năm tuổi - Địa Tạng Phi Lai Tự
Xem
Ẩm thực chay trong Phật giáo Bắc Tông
Xem
Y Phật phát huy giới thân huệ mạng người xuất gia
Xem
Bộ não người như cái thùng chứa, hãy biết chọn sách để đọc
Xem
Đại Bồ Tát thành kính tri ân cúng dường những ngôi chùa lớn tại Hà Nội
Xem
Thần chú trong Phật giáo
Xem
Thượng Toạ Thích Thông Châu giảng đề tài: “Ý NGHĨA BÁO HIẾU MÙA VU-LAN”
Xem
Kênh truyền thông Đại Bồ Tát